31 C
Hanoi
Thứ Hai, 8 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Home Blog Page 36

THIÊN PHỦ – CAN CANH HÓA KHOA

0

Thiên phủ – can Canh hóa Khoa

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Phái Trung Châu định lệ Thiên Phủ hóa Khoa, còn các phái khác thì Thái Dương và Thiên Phủ không hóa Khoa, mà thay vào đó là Tả phụ và Hữu bật.

      Sự truyền thụ nào thì cũng có nguồn gốc lịch sử của nó, do đó tốt nhất là giải quyết theo cách: để cả hai thuyết cùng lưu truyền tùy theo môn phái.
      Thiên Phủ hóa Khoa có uy tín như giới ngân hàng, uy tín là điều tối trọng yếu của ngân hàng, cho nên phái Trung Châu cho rằng khi Thiên Phủ hóa Khoa cũng không phải là vô lý.
      Do đó, ý nghĩa của Thiên Phủ hóa Khoa cực kỳ đơn giản, nó không giống như các Sao khác, thông thường sau khi Hóa Khoa sẽ có bản chất “lưỡng trùng”, đó là vừa cải thiện khuyết điểm, vừa làm tăng năng lực cho sự biểu hiện. Nhưng bản chất của Thiên Phủ hóa Khoa chỉ có một, đó là làm tăng mức độ của uy tín. Thực ra đây cũng đã bao gồm bản chất “lưỡng trùng” đã thuật ở trên. Bởi vì “kho tiền” mà có uy tín thì đương nhiên phải rất ít khuyết điểm, đồng thời phải có biểu hiện tốt thì mới tạo dựng được uy tín.
      Cho nên, Thiên Phủ thuộc vào loại “kho trống”, “kho lộ” vốn chủ về gian xảo, nhưng sau khi hóa Khoa, thì dù là “kho lộ” hay “kho trống”, cũng biến thành không thể gian xảo.
      Tinh hệ “Vũ khúc Thiên Phủ” thủ Mệnh ở hai cung Tí hoặc Ngọ, mà Thiên Phủ hóa Khoa thì Vũ khúc ắt sẽ hóa Kị, còn đồng độ với Kình dương hoặc có Đà la hội chiếu, đối cung là Thất sát, tam phương tương hội là Liêm trinh độc tọa ở cung Tài bạch, và “Tử vi Thiên tướng” ở cung Sự nghiệp mà Tử vi hóa Quyền.
      Thông thường tổ hợp tinh hệ này không thích hợp tự kinh doanh làm ăn. Vũ Khúc hóa Kị chủ về “nhập xuất” tài chính gặp khó khăn và nhiều nan giải, còn Thiên Phủ hóa Khoa chủ về được người ta tín nhiệm, do đó kinh doanh làm ăn dễ bị hoàn cảnh khách quan gây ảnh hưởng, biến thành mối quan hệ tài chính có hệ số rủi ro rất cao. Lúc Thiên Phủ hóa Khoa chỉ thích hợp làm việc trong ngành tín dụng hoặc chính giới, chủ về dễ được thượng cấp tin tưởng đề bạt. Có điều không nên ở vị trí cao nhất, nếu không sẽ dễ thất bại. Ngoài ra mệnh tạo cũng thích thực thi công việc có tính liều lĩnh, mạo hiểm có hệ số nguy hiểm cao.
      Đối với nữ mệnh, phần nhiều đều bất lợi về hôn nhân, thường ít có lạc thú phòng the đối với chồng (nhưng vẫn thích lạc thú phong the đối với nhân tình).
      Thiên Phủ độc tọa thủ Mệnh hóa Khoa ở hai cung Sửu hoặc Mùi, đối cung là “Liêm trinh Thất sát”, tam phương tương hội là Thiên tướng ở cung Sự nghiệp, và mượn “Tử vi Tham lang” nhập cung Tài bạch để hội cung mà Tử vi hóa Quyền.
      Thiên Phủ hóa Khoa nên tinh hệ này vẫn chủ về tốt, do ảnh hưởng của “Tử vi Tham lang” ở cung Phúc nên có lúc xảy ra mâu thuẫn. Có trí tiến thủ, chịu tiêu xài thích đáng trong giao tế, nhưng vẫn giữ tác phong rất bảo thủ, nhất là quá xem trong chữ “tín”.
      Thiên Phủ hóa Khoa của tinh hệ này cũng chỉ có lợi khi ở địa vị ” cấp phó”. Thích hợp với những nghề mang tính chuyên nghiệp, trong lúc làm việc thường để lại uy tín và có thể còn được nhiều trợ lực.
      Trọn lựa quyết định về địa vị đối với nhóm tinh hệ này là rất quan trọng, thường thường sẽ biểu hiện khi đến các cung hạn như “Từ vi Tham lang”, “Vũ khúc Phá quân”, “Liêm trinh Thất sát”, những hành động thuộc hậu thiên ở vào thời điểm này có thể ảnh hưởng đến tình huống diễn biến thực tế.
      Nhưng về phương diện hôn nhân tinh hệ này cũng có khuyết điểm, nhất là nữ mệnh, hoặc người phối ngẫu có những khiếm khuyết đáng tiếc, nên dốc tâm vào việc giáo dục con cái.
      Ở đại hạn hoặc lưu niên mà gặp tinh hệ này, thì không có những bản chất đã thuật ở trên, nhưng nên lưu ý đến cơ hội thăng chức, hoặc nguồn tiền tài thay đổi theo hướng tốt, cũng chủ về là vận thế thuận lợi toại ý nhưng vẫn rất bảo thủ.
      Tinh hệ “Tử vi Thiên phủ” thủ Mệnh ở hai cung Dần hoặc Thân, mà Thiên phủ hóa Khoa thì Tử vi ắt sẽ hóa Quyền, có Lộc tồn đồng độ hoặc vậy chiếu, đối cung là Thất sát, tam phương hội cung với Vũ khúc hóa Kị độc tọa ở cung Tài bạch, và “Liêm trinh Thiên tướng” ở cung Sự nghiệp.
      Khi Tử vi và Thiên phủ đồng độ, thì sức mạnh của Thiên Phủ thường khó phát huy, có lúc biến thành gây lụy. Nhưng trong kết cấu tinh hệ này, lực của Thiên Phủ khá mạnh, tức có sao Lộc mà còn hóa Khoa, sẽ ảnh hưởng đến năng lực quyết đoán và chí tiến thủ của Tử vi tuy bị giảm thấp nhưng lại có thể tiến bộ trong sự phát triển ổn định. Tinh hệ này có sở trường thích bàn luận về chính trị, binh pháp.
      Nhưng tinh hệ này cũng bất lợi về hôn nhân, chủ về không hợp tính cách với người phối ngẫu, nhìn bề ngoài vẫn duy trì mối quan hệ hôn nhân, nhưng bên trong cấu thành nỗi đau khổ thầm kín.
      Ở đại hạn hoặc lưu niên mà gặp nhóm tinh hệ này, chủ về được tăng quyền lực một cách thầm kín, lợi ích cũng nhờ đó mà tăng lên.
      Thiên Phủ độc tọa thủ Mệnh hóa Khoa ở hai cung Mão hoặc Dậu, gặp Sát tinh, đối cung là “Vũ khúc Thất sát” mà Vũ khúc hóa Kị, tam phương tương hội là Thiên Tướng độc tọa ở cung Sự nghiệp, và mượn “Liêm trinh Tham lang” để nhập cung Tài bạch. Thiên Phủ ở cung Mão được gặp Lộc tồn.
      Tinh hệ này tuy bất lợi khi đi xa, nhưng “Liêm trinh Tham lang” ở cung Phúc đức thường thường lại khiến mệnh tạo phải rời xa quê hương mới phát triển tốt, dễ gặp vận trình tốt có tính phát đột ngột. Nếu cố thủ ở nơi sinh ra, thì uy tín chỉ đạt được trong phạm vi hạn chế, sự nghiệp phát triển nhỏ hơn, có thể vì danh tiếng trong địa phương quá nhỏ hẹp, nên thường ở vào tình cảnh bị ép phải tham gia những cuộc thù tạc giao tế mà bản thân không thích, thậm chí còn phải hao tổn, do đó tạo thành những phiền phức khó xử trong lòng.
      Cung Thiên Di có “Vũ khúc Thất sát” mà Thiên phủ hóa Khoa tương hội, cho nên sau khi trải qua gian khổ ở xứ người, thì có thể tạo dựng được sự nghiệp và được tin tưởng, cho nên có thể xoay chuyển được tình thế công việc đúng lúc cần thiết nhất. Ngoài ý vị thích hợp với những ngành nghề mang tính mạo hiểm có mức độ nguy hiểm cao, nếu mệnh tạo an phận thủ thường, ở lại quê nhà thì không nên tự kinh doanh làm ăn, chỉ thích hợp làm nhân viên hưởng lương.

      Ở đại hạn hoặc lưu niên mà gặp nhóm tinh hệ này, không nên mở rộng việc kinh doanh làm ăn, chỉ chủ về vận trình tăng thêm vẻ vang.

Tinh hệ “Liêm trinh Thiên phủ” thủ Mệnh ở hai cung Thìn hoặc Tuất, mà Thiên phủ hóa Khoa, đối cung là Thất sát, (ở cung Thìn mệnh tạo được Lộc tồn hội chiếu), tam phương hội cung có Tử vi độc tọa ở cung Tài bạch, và “Vũ khúc Thiên tướng” ở cung Sự nghiệp mà Vũ khúc hóa Kị. Cung Mệnh gặp Sát tinh đồng độ hoặc vây chiếu.
Tinh hệ này, về sự nghiệp và hôn nhân đều có khuyết điểm.
Ở phương diện sự nghiệp, không nên tự sáng lập sự nghiệp, bất lợi nhất  là các công việc hay nghề nghiệp có liên quan đến tiền tệ, nghiệp vụ ngân hàng, không được đầu cơ vì có đầu cơ thì cũng thất bại, nếu làm việc hưởng lương thì cũng không được quản lý tiền bạc.
Về phương diện hôn nhân, thường chủ về tái hôn, mà cũng dễ “ngó đứt mà tơ vương”.
Ở đại hạn hoặc lưu niên mà gặp nhóm tinh hệ này, người kinh doanh làm ăn phải đề phòng vấn đề xoay chuyển tiền bạc khó khăn, trắc trở về sự nghiệp.

Thiên Phủ độc tọa thủ Mệnh, hóa Khoa ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, có Lộc tồn đồng độ hoặc vây chiếu, đối cung là “Tử vi Thất sát” mà Tử vi hóa Quyền, tam phương tương hội với Thiên Tướng độc tọa ở cung Sự nghiệp, và mượn “Vũ khúc Tham lang” nhập cung Tài bạch có Vũ khúc hóa Kị.
Tinh hệ dạng này chủ về đời người khá thuận lợi toại ý, nhưng phần nhiều đều có thanh thế lớn bề ngoài, mà bên trong chi ra quá nhiều, may mà có tín dụng chống đỡ, vẫn có thể vững bước phát triển sự nghiệp.
Thiên Phủ hóa Khoa thì không sợ thiếu nguồn tiền tài, nhưng khuyết điểm lớn nhất của tinh hệ này là dễ xác định sai kế hoạch. Đạo “xu cát Tỵ hung” là cần phải kinh doanh thiết thực và sống có tiết chế một cách thích đáng.
Ở lưu niên hoặc đại hạn mà gặp tinh hệ này, cũng phải lưu ý khuyết điểm đã thuật ở trên.

VĂN KHÚC – CAN TÂN HÓA KHOA

0

Văn khúc – can Tân hóa Khoa

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Can Tân là Văn Khúc hóa Khoa và Văn xương hóa Kị, hai sao này thường gặp nhau trong mệnh bàn, do đó cần phải lưu ý bản chất đặc biệt lúc chúng tương hội.       Thông thường, có thể biểu trưng cho học hành thông minh, nhưng lúc xử sự hay ỷ vào sự thông minh của mình, mà thường tự cho mình là đúng. Ở giai đoạn còn đi học, thì chủ về có nhiều hứng thú với toán lý, hoặc ngoại ngữ.       Tính chất cơ bản của Văn khúc hóa Khoa hơi giống Văn xương, đã gặp thuật ở bài trước. Làm tăng năng lực biện luận, ngôn từ dễ làm vui lòng người khác và hấp dẫn người khác giới.

Tinh hệ “Thái dương Cự môn” ở hai cung Dần hoặc Thân, chia ra một sao hóa Quyền và một sao hóa Lộc, có Văn khúc hóa Khoa đồng độ, đây là kết cấu tốt nhất, đại lợi về “dùng lời nói để kiếm tiền”, xem xét kỹ các sao Phụ diệu, Tá diệu, Sát tinh, Tạp diệu, để định thích hợp với ngành nghề pháp luật, ngoại giao, hay nghệ thuật biểu diễn, .v.v…       Văn khúc ở 3 cung Dần Ngọ Tuất là hãm nhược, cho dù có Hóa Khoa, cũng chủ về có mầm mà không trổ bông.

      Các tính chất còn lại tham khảo ở mục “Văn Xương hóa Khoa”

THÁI ÂM – CAN QUÝ HÓA KHOA

0

Thái Âm – can Quý hóa Khoa

(Tuvivietnam – siêu tầm)

 Trong các tình hình thông thường, Thái Âm hóa Khoa là biểu trưng cho sự tu dưỡng phát triển tài năng “nhân văn”, thiên hướng nghiêng về văn học nghệ thuật, khí chất nhàn nhã, thông minh tài trí.

      Thái Âm nhập miếu mà Hóa Khoa, còn chủ về uy tín và danh tiếng, nếu có Văn tinh hội hợp, ắt sẽ xuất thân từ điển thí mà có Danh; nếu có các Sao đào hoa hội hợp, thì danh tiếng thuộc lĩnh vực giải trí, vui chơi, văn nghệ biểu diễn; nếu có các Sao tiền tài hội hợp, thì có danh vọng và uy tín trong giới làm anh kinh doanh.
      Thái Âm lạc hãm mà Hóa Khoa, ắt sẽ mang lại khuyết điểm, như bất lợi đối với người thân phái nữ, vẫn có những tính chất giống như nhập miếu mà Hóa Khoa, nhưng danh vọng nhỏ hơn.
      Nữ mệnh gặp Thái Âm hóa Khoa thì thích hợp hơn nam mệnh, có thể làm tâng tinh thần trách nhiệm đối với gia đình, quan tâm chăm sóc hơn, đối với nam mệnh thì giảm bớt tính cách hướng nội mà tăng khả năng hướng ngoại.
Thông thường, Thái Âm hóa Khoa cũng có lợi về hôn nhân; nam mệnh lấy được vợ xinh đẹp; nữ mệnh lấy được chồng có năng lực làm việc, quan tâm chăm sóc vợ con, hoặc chồng có tài hoa chói lọi. Nhưng Thái Âm hóa Khoa thì Tham Lang ở cung Phụ Mẫu ắt sẽ hóa Kị, là biểu trưng cho hiện tượng thông thường “tài cao thì chuốc đố kị”. Cho nên cần phải quan sát các đại hạn xem có rơi vào tình huống bị áp chế hay không? Nếu thấy gặp phải nhiều tình huống này, thì có tài mà không gặp thời.

Tinh hệ “Thiên đồng Thái âm” thủ Mệnh ở hai cung Tí hoặc Ngọ, mà Thái Âm hóa Khoa ắt sẽ có Lộc tồn đồng độ hoặc vây chiếu; tam phương tương hội với “Thiên cơ Thiên lương” ở cung Sự nghiệp, và mượn “Thái dương Cự môn” để nhập cung Tài bạch có Cự môn hóa Quyền.
Trong tinh hệ này, Thái Âm hóa Khoa có sao Lộc là kết cấu tốt lành, nếu lại được Văn Xương, Văn Khúc hội chiếu, thì đây là cách “Lộc Văn củng mệnh”, chủ về có vợ đẹp, khoa cử công danh thuận lợi. Ở thời hiện đại thì thích hợp nghiên cứu học thuật.
Người có tinh hệ này thủ Mệnh, nam chủ về phong thái nho nhã, nữ chủ về thích trang điểm làm đẹp. Cho nên đều tạo được “hảo cảm” với người khác, nếu có tinh thần sung mãn thì toàn mỹ.
Ở đại hạn hoặc lưu niên mà gặp tinh hệ này, chủ về tài lộc thuận lợi toại ý, nhưng không biểu trưng cho việc sáng lập sự nghiệp.Tinh hệ “Thái dương Thái âm” thủ Mệnh ở hai cung Sửu hoặc Mùi, mà Thái Âm hóa Khoa ắt sẽ đồng độ với Đà La, hoặc hội với Kình dương Đà la; tam phương hội hợp với Thiên Lương độc tọa ở cung Sự nghiệp, và mượn “Thiên cơ Cự môn” để nhập cung Tài bạch mà Cự môn hóa Quyền.
Do Thái Âm đồng độ với Thái Dương, nên lực của Hóa Khoa có biểu hiện kém hơn, không hiển hách bằng Thái Dương hóa Khoa, vì vậy chỉ có hư danh về mặt danh nghĩa, mà không có lợi ích thực tế.
Thái Dương ở cung Sửu có sức ảnh hưởng nhỏ, do đó Thái Âm hóa Khoa ở cung Sửu tốt hơn ở cung Mùi, ở cung Sửu khi Thái âm hóa Khoa sẽ được thực tiễn hơn. Mượn “Thiên cơ Cự môn” để hội hợp mà Cự Môn hóa Quyền, cho nên thích hợp “dùng lời nói để kiếm tiền”, có thể phát huy năng lực phục vụ của tài nói chuyện.
Nhưng nữ mệnh mà gặp nhóm tinh hệ này thì bất lợi về hôn nhân, đối với nam mệnh có thể mượn lực của Thái Âm hóa Khoa để bổ khuyết.
Tinh hệ “Thiên cơ Thái âm” thủ Mệnh ở hai cung Dần hoặc Thân, mà Thái Âm hóa Khoa (ở cung Thân còn hội Lộc tồn). Tam phương hội hợp với Thiên Đồng đọc tọa ở cung Tài bạch, và Thiên Lương độc tọa ở cung Sự nghiệp.
Trong tổ hợp này, nếu Thái Âm không Hóa Khoa, thì đây là mệnh rời xa quê hương, sau khi Hóa Khoa sẽ khiến cho bản chất vốn hiếu động trôi nổi của hai sao Thiên cơ và Thái âm trở thành ổn định, có thể phát triển ở bản địa, mà còn có tiếng tăm. Có điều, nguồn tiền tài vẫn gặp nhiều sóng gió, trắc trở, ở cung Thân thì tốt hơn.
Thái Âm hóa Khoa làm mạnh thêm sắc thái thích hợp về công việc nội vụ, vì vậy nên làm về ngạch hành chính.
Bất kể là nam mệnh hay nữ mệnh, Thái Âm sau khi Hóa Khoa đều có thể cải thiện tính chất vốn bất lợi ở cung Phu Thê.
Ở đại hạn hoặc lưu niên mà gặp nhóm tinh hệ này, chỉ chủ về được người ta tán thưởng những biểu hiện của bản thân mệnh tạo, quan trọng nhất là nắm bắt được cơ hội để phát vượt lên.Thái Âm độc tọa thủ Mệnh hóa Khoa ở hai cung Mão hoặc Dậu, đối nhau với Thiên Đồng; tam phương tương hội với Thái Dương độc tọa ở cung Tài bạch, và Thiên Lương độc tọa ở cung Sự nghiệp. Kết cấu tinh hệ này, “tam phương tứ chính” đều gặp Sát tinh.
Thái Âm hóa Khoa ở cung Mão không bằng ở cung Dậu, vì ở cung Mão thì lạc hãm, và không thành cục “phản bối” (không gặp sao Lộc, Thái dương ở cung Hợi lại đồng độ với Đà la). Cho nên Thái Âm hóa Khoa ở cung Dậu dễ được người ta trọng dụng, còn ở cung Mão thì trở thành tự sùng bái cá nhân mình.
Tinh hệ có một ưu điểm, bất kể ở cung Mão hay ở cung Dậu, đều chủ về làm tăng phong thái của mệnh tạo, có phong cách cá nhân đặc biệt. Nhưng ở thời hiện đại, nhóm sao này, lại thường có khuynh hướng “đồng tính luyến ái”, khi Thái Âm hóa Khoa làm tăng lực hấp dẫn càng mạnh.
Ở đại hạn hoặc lưu niên mà gặp nhóm tinh hệ này, chỉ chủ về tâm tình vui vẻ.

Thái Âm độc tọa thủ Mệnh hóa Khoa ở hai cung Thìn hoặc Tuất (ở cung Thìn còn gặp Lộc tồn), gặp Thái Dương ở đối cung độc tọa; tam phương tương hội với Thiên Cơ độc tọa ở cung Tài bạch, và “Thiên đồng Thiên lương” ở cung Sự nghiệp.
Thái Âm nếu không hóa Khoa, thì ở cung Tuất ưu hơn ở cung Thìn. Như sau khi Hóa Khoa có thể chủ về nắm quyền về hình pháp, quân đội hay cảnh sát, ở cung Tuất vẫn tốt hơn.
Thái Âm hóa Khoa ở cung Tuất thì cung Di là Thái dương ở cung Thìn, hội Lộc tồn và chia ra một sao Hóa Quyền một sao Hóa Khoa, kết cấu này vận trình sáng sủa hơn xa Thái Âm ở cung Thìn, vì vậy nên rời xa quê hương để phát triển chủ về dễ được quý hiển. Đây là sự khác biệt rất quan trọng giữa hai cung Thìn và Tuất.
Nhưng bất kể trong tình huống nào, Thái Âm ở “thiên la địa võng” đều ưa Hóa Khoa, có thể đột phá “thiên la địa võng” mà tỏa ánh sáng, dẫn tới đời người ắt sẽ có biểu hiện tốt, hơn nữa còn có thể cải thiện sự bất lợi về hôn nhân.

Thái Âm độc tọa thủ Mệnh, hóa Khoa ở hai cung Tỵ hoặc Hợi, có Đà la đồng độ hoặc hội Kình dương Đà la; đối cung với Thiên Cơ, tam phương hội hợp với “Thái dương Thiên lương” ở cung Sự nghiệp, và mượn “Thiên đồng Cự môn” nhập cung Tài bạch có Cự môn đồng thời hóa Quyền.
So sánh hai cung, ở cung Tỵ không bằng ở cung Hợi, Hóa Khoa chỉ hơi cải thiện khuyết điểm lúc lạc hãm. Ở cung Hợi có thể theo ngành nghề chuyên về kế hoạch, vạch kế sách, thiết kế, phần nhiều đều có biểu hiện tốt, cũng thích hợp với kế hoạch tài vụ, có thể thành danh.
Nhưng Thái Âm ở hai cung này đều rất dễ xảy ra đau khổ vì tình, nhất là nữ mệnh gặp Thái âm thủ Mệnh ở cung Tỵ, thường thường nỗi đau khổ trong lòng suốt đời sẽ không thể quên
Ở lưu niên hoặc đại hạn mà gặp tinh hệ này, ở cung Hợi thì có lợi ích thực tế, ở cung Tỵ thì chỉ được hư danh.

CÁCH CỤC TAM KỲ GIA HỘI

0

Cách cục Tam kỳ gia hội

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Ba sao hóa là Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa được gọi là tam kỳ, nếu ba sao hóa này tập trung tại cung vị tam phương tứ chính của cung mệnh, là cách cục Tam kỳ gia Cách cục này chủ về ý chí cao viễn, vận khí cực tốt, gặp nhiều may mắn, thường gặp vận tốt bất ngờ hoặc quý nhân giúp đỡ, có thể thành tựu được sự nghiệp lớn. Tam hợp chính tinh miếu vượng và ba sao Hóa cũng miếu vượng đắc địa, sẽ được nổi danh trên tầm thế giới, giàu sang tột bậc. Nếu các sao tại cung mệnh miếu vượng, tại cung tam phương có hung tinh, vẫn được giàu sang, nôỉ tiếng nhưng sẽ có phần kém hơn. Nếu các sao tại cung mệnh lạc hãm, tại cung tam phương có tứ sát, Không Kiếp hoặc mệnh phạm không von, tuy có tài hoa nhưng không gặp thời cơ, khó được thành tựu nên trở thành cách cục bình thường. Nếu trong cung vốn không có cát tinh để điều hòa, cứu giải, cho dù có tam kỳ Khoa, Quyền, Lộc, cũng khó có khả năng thành tựu. Ngược lại nếu có

được cát tinh trợ giúp thích đáng, tuy gặp Hóa Kị, Địa Kiếp, Thiên Không cũng chỉ giảm bớt ít nhiều phúc phận mà không có trở ngại gì lớn, nên khi vận dụng cần hết sức linh hoạt, không thể định ra một quy chuẩn cứng nhắc. Thường nếu trong lá số gặp tam kỳ, chắc chắn không phải là phường tầm thường bất tài, chắc chắn sẽ có điểm khác thường. Cụ thể như sau:
1. Sinh năm Giáp
– Vũ Khúc, Thiên Tướng trấn mệnh tại Dần, Thân: Đại phú, đại quý.
– Tử Vi, Tham Lang trấn mệnh tại Mão Dậu: Khó được giàu sang, dù được giàu sang cũng là phường gian ác, gặp được Tả, Hữu, Xương, Khúc cùng cung mới cát lợi.
– Liêm Trinh, Thất Sát trấn mệnh tại Sửu, Mùi: Đại phú, đại quý.
– Vũ Khúc, Phá Quân trấn mệnh tại Tỵ Hợi: Khó được giàu sang.
– Liêm Trinh, Thiên Tướng trấn mệnh tại Tí, Ngọ: Đại phú, đại quý.
– Tử Vi, Thất Sát trấn mệnh tại Tỵ Hợi: Khó có thành tựu lớn.
– Vũ Tham trấn mệnh tại Sửu, Mùi: Cũng có thể giàu có, nhưng phải gặp Hỏa, Linh đồng cung mới hiệu nghiệm.
– Liêm Trinh, Phá Quân trấn mệnh tại Mão Dậu: Có thể giàu có nhưng khó có thành tựu lớn.
– Tử Vi, Thiên Tướng trấn mệnh tại Thìn, Tuất: Có thể giàu sang, gặp Tả, Hữu, Xương Khúc càng cát lợi.
– Tử Vi, Phá Quân trấn mệnh tại Sửu Mùi: Có thể giàu có nhưng khó có thành tựu lớn.
– Liêm Trinh, Tham Lang trấn mệnh tại Tỵ Hợi: Khó được giàu sang, người nam lãng mạn, người nữ đa tình, tại cung Hợi chủ về tù ngục.
– Vũ Khúc, Thất Sát trấn mệnh tại Mão Dậu: Khó được giàu sang, bị tàn tật, tại cung Mão càng nghiêm trọng, tại cung Dậu được giàu có nhưng khó có thành tựu lớn.
Những trường hợp trên tại cung vị tam phương, tứ chính có tam kỳ Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa gia hội.

2. Người sinh năm Đinh
– Thiên Cơ, Thái Dương trấn mệnh tại Dần, Thân: Được giàu sang nhưng khó có thành tựu lớn.
– Thiên Lương trấn mệnh tại Tí, Ngọ: Đại phú, đại quý.
– Thiên Đồng trấn mệnh tại Thìn, Tuất: Đại phú, đại quý.
– Thiên Đồng trấn mệnh tại Mão Dậu: Đại phú, đại quý
– Thiên Đồng, Thái Âm trấn mệnh tại Tí Ngọ: Tại cung Tí là đại phú, đại quý, tại cung Ngọ không hiển đạt, mệnh nữ chủ đa tình.
– Thiên Cơ, Thiên Lương trấn mệnh tại Thìn, Tuất: Có thể được giàu sang.
– Cung mệnh tại Dần, Thân không có chủ tinh, tại cung đối diện có Cự Môn, Thái Dương: Có thể giàu sang nhưng khó có thành tựu lớn.
– Thiên Đồng, Thiên Lương trấn mệnh tại cung Dần, Thân: Giàu sang trung bình, cần kết hợp với phong thủy tốt mới có thành tựu lớn.
– Thái Âm trấn mệnh tại Thìn, Tuất: Đại phú, đại quý, gặp Tả, Hữu, Xương, Khúc, sinh vào ban đêm lại càng tốt đẹp.
– Thiên Cơ trấn mệnh tại Tí, Ngọ: Đại phú, đại quý.
– Cung mệnh tại Sửu, Mùi không có chủ tinh, tại cung đối diện có Thái Âm, Thái Dương: Khó có thành tựu lớn, mệnh nữ chủ đa tình.
Những trường hợp trên tại cung vị tam phương, tứ chính có tam kỳ Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa gia hội.

3. Người sinh năm Bính, Tân do có Văn Xương và Văn Khúc hóa Khoa, tam kỳ gia hội không cố định, nên không liệt kê ra đây.
4. Người sinh năm Ất, Mâu, Kỷ, Canh, Nhâm, Quý không xuất hiện cách Tam Kỳ, ba sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa không gia hội, hay hội chiếu tại cung vị tam phương, tứ chính.
Ca quyết như sau:
Tam kỳ củng hướng tử vi cung
Tối hỷ nhân sinh mệnh lý phùng
Mệnh lý âm dương chân Tể tướng
Công danh phú quý bất lôi đồng
Nghĩa là:
Tam kỳ cùng chầu về cung mệnh
Gặp cách cục này rất đáng mừng
Mệnh lý âm dương làm Tể tướng
Công danh phú quý chẳng tầm thường

Nhận định về Tam Kỳ gia hội:
Trong Tử Vi Đẩu số, tam kỳ Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa gia hội là một cách cục cực tốt cho lá số. Do bốn sao hóa được sắp xếp căn cứ vào Thiên can nên can năm sinh khác nhau, thì vị trí bốn sao Hóa cũng khác nhau. Cũng bởi đó những người sinh năm khác nhau thì cũng có tần suất xuất hiện cách cục tam kỳ gia hội khác nhau, có những năm sinh không thể xuất hiện cách cục này, nhưng cũng có năm sinh có tỷ lệ xuất hiện rất cao.
Ưu điểm cách cục: Danh tiếng lừng lẫy, phú quý song toàn, được phúc ấm hay lộc của tổ tiên để lại, gặp nhiều may mắn, gặp nạn được quý nhân phù trợ, có thể dẫn đến thành công bất ngờ (nếu chỉ gặp hai sao Hóa gia hội cũng cát lợi).
Khuyết điểm: Cung mệnh gặp tam kỳ gia hội tuổi trẻ gặp nhiều vất vả gian nan, do đại hạn thứ 3 có thể gặp một vài sao hóa, đại hạn thứ năm mới gặp đủ bộ ba sao hóa, nên cách cục này thường thành tựu muộn. Nếu gặp Không Kiếp, Sát, Phá gia hội tuy vẫn thành công nhưng sẽ gặp nhiều gian nan.
Kinh văn có viết: ” Khoa, Quyền, Lộc chầu về công danh hiển đạt”, ” Khoa, Quyền, Lộc chầu về ắt là người tài cao đỗ đạt”, “Khoa, Quyền, Lộc tụ hội phú quý song toàn”, ” Hóa Lộc trấn cung mệnh, thân, cung quan lộc lại gặp Khoa, Quyền, ắt làm đến chức đại thần”, ” Hóa Quyền trấn thân, mệnh lại gặp Khoa, Lộc, chức trọng quyền cao”, ” Hóa Khoa trấn thân , mệnh, lại gặp Quyền, Lộc làm đến Tể tướng”.

HÓA DIỆU LUẬN

0

HÓA DIỆU LUẬN

(Tuvivietnam – siêu tầm)
Hóa diệu trong Tử Vi Đẩu Số, là các sao biến hóa then chốt liên thông các tinh bàn (Thiên bàn và Nhân bàn), nhất là Lưu niên và Đại vận, có các “Lưu hóa diệu” giao hội hỗ tương với hóa diệu của nguyên cục, khiến cho tính chất của tinh hệ hữu quan biến thành phức tạp, cũng chính nhờ như vậy mới luận đoán được cảnh ngộ của đời người khá cụ thể.
Hóa Lộc thông thường có ý nghĩa là “tài lộc”; Hóa Quyền thông thường có ý nghĩa là “quyền thế”; Hóa Khoa thông thường có ý nghĩa là “danh tiếng”; Hóa Kị thông thường có ý nghĩa là “trở ngại”. Nhưng mỗi một tinh diệu biến hóa vẫn có ý nghĩa đặc biệt của nó, những ý nghĩa đặc biệt này thường thường là căn cứ để luận đoán.

Lúc luận đoán mệnh cục, chỉ có Tứ hóa của năm sinh, nên khá đơn giản, dễ quan sát. Luận đoán những điểm quan trọng, chỉ cần xem bản thân các sao Tứ hóa có hội hợp hay không? hội hợp ở cung độ nào? thì có thể biết được đại thể.
Lúc luận đoán Đại hạn, chỉ có Tứ hóa của Đại hạn và Tứ hóa của năm sinh, cũng chưa phức tạp mấy, xem các sao hội hợp với chúng cũng không đến mức hoa mắt.
Nhưng khi luận đoán Lưu niên, tổng cộng có 3 nhóm Tứ hóa, có thể cung độ nào cũng có hóa diệu hội chiếu hoặc đồng độ, thường khiến cho người nghiên cứu Đẩu Số hoa cả mắt.
Thực ra, thông thường chỉ cần xem hai nhóm hóa diệu của Đại hạn và Lưu niên; lúc nào tứ hóa của năm sinh bị xung khởi mới cần chú ý, không xung khởi thì tác dụng rất nhỏ.
Tứ hóa của năm sinh cấu tạo thành bản chất thuộc các cung viên, còn Tứ hóa của Đại vận và Lưu niên là hình thành hoàn cảnh của các thời kỳ trong cuộc đời. Do đó tứ hóa năm sinh có ảnh hưởng không lớn đối với hoàn cảnh của các thời kỳ. Điểm này bạn đọc cần hiểu rõ cái lý của nó.
Chỉ khi nào Tứ hóa của năm sinh bị tứ hóa của Đại vận xung hội, hoặc tứ hóa của Lưu niên xung hội, thì tứ hóa của năm sinh mới có tác dụng.
Dưới đây xin đề cử vài ví dụ cụ thể để thuyết minh:
Nếu “Thái dương Thái âm” thủ mệnh tại cung Mùi, người sinh năm Canh thì Thái dương hóa Lộc. Đến Đại hạn Ất Dậu, cung mệnh của Đại hạn là “Thiên cơ Cự môn” mà Thiên cơ hóa Lộc, hội hợp với “Thái dương Thái âm” (mượn sao cung Mùi an cung Sửu) mà Thái âm hóa Kị.
Lúc này, Thiên cơ hóa Lộc xung khởi Thái dương hóa Lộc, càng khiến cho Thiên cơ hóa Lộc có sắc thái “vì phục vụ mọi người mà được lợi ích”. Thêm vào Thái âm hóa Kị, là bất lợi về kinh doanh riêng, cho nên lúc này chỉ có thể làm việc cho công ty để kiếm tiền, cá nhân thì không nên đầu tư.
Hóa Lộc ở nguyên cục lại hóa Kị ở Đại vận hoặc Lưu niên, ý là “sao hóa Lộc biến thành sao hóa Kị” (thí dụ như Vũ khúc hóa Lộc của nguyên cục biến thành hóa Kị), cho nên có thể vì tiền mà chuốc họa, hoặc sức kiếm tiền ban đầu giảm nhiều.
Hóa Kị ở nguyên cục, lại Hóa Lộc ở Đại vận hoặc Lưu niên, ý là “sao hóa Kị của nguyên cục biến thành sao hóa Lộc” (ví dụ như Cự môn hóa Kị của nguyên cục biến thành hóa Lộc của Đại vận hay Lưu niên). Cho nên, nhân tố bất lợi ban đầu, vào hạn này có thể nhuyễn hóa thành nhân tố có lợi, nhờ đó mà được tài phú.
Hai ví dụ trên cho thấy sự biến hóa thay đổi có ý nghĩa khi hóa diệu giao hội.

Hóa Lộc luận
Hóa Lộc thuộc âm thổ, cai quản tài lộc. Cho nên ưa có Lộc Tồn tương hội, gọi là “Lộc trùng điệp”; lai ưa gặp “Lộc tồn Thiên mã” gọi là cách “Lộc Mã giao trì”.
Hóa Lộc không ưa đến 4 cung Tí Ngọ Mão Dậu, nhất là cung Mão, rất ưa đến các cung Dần, Thân, Hợi, cũng ưa cung tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Lộc Tồn không đến các cung Tứ mộ, nên ưa Hóa Lộc bổ túc, cần phải có sao Lộc xung khởi mới phát huy được.
Ý nghĩa của Hóa Lộc, thông thường là chỉ “nguồn tiền tài”, tức là tính chất và năng lực kiếm tiền, cũng chỉ “cơ hội kiếm tiền”.
Trong các tình hình thông thường, không ưa Địa không, Địa kiếp cùng bay đến (bốn cung Tí Ngọ Mão Dậu). Cổ nhân nói “Lộc mà đến cung nhược thì phát mà không chủ về tài”, tức là chỉ được hư danh mà không có lợi lộc thực tế.
Hóa Lộc rất ngại gặp Hóa Kị xung phá, cổ nhân nói: “Lộc gặp xung phá, là trong cái tốt có chứa điềm hung”. Trong các tình hình thông thường, chủ về tình hình vì kiếm tiền mà sinh tai họa. Ví dụ như vì cầu tài mà xảy ra bất chắc, đầu tư lớn mà không có thu hoạch, dẫn đến không còn vốn để tiếp tục đầu tư. Những trường hợp này, cần phải xem tổ hợp Sao thực tế mà định tính chất.
Hóa Lộc tượng hội với Hóa Quyền và Hóa Khoa, thông thường là kết cấu rất tốt, được gọi là “Tam kỳ gia hội cách”, nhưng vẫn cần xem xét tính chất của các Sao bay đến để định nặng nhẹ.
Như cung mệnh “Liêm trinh Thiên tướng”, mà Liêm trinh hóa Lộc, có Phá quân hóa Quyền vây chiếu, hội hợp với Vũ khúc hóa Khoa ở cung Sự nghiệp. rõ rằng là lấy Liêm trinh hóa Lộc làm chủ. Bởi vì “Liêm trinh Thiên tướng” chủ về làm việc trong chính giới, hoặc trong công ty có tính phục vụ, bản chất của cung mệnh này, Phá quân hóa Quyền chỉ làm tăng quyền bính về kinh tế, Hóa Quyền Hóa Khoa chỉ trợ giúp cho tình hình cát lợi của cung mệnh, không thể tính là chủ thể.

Hóa Quyền luận
Hóa Quyền thuộc dương mộc, nên phải đề phòng “cây to thì hứng gió”. Cũng chính vì vậy, Đẩu Số ưa “Lộc trùng điệp” mà không ưa “Quyền trùng điệp”, lúc hóa Quyền gặp hóa Quyền trùng điệp, sẽ dễ chuốc lực áp chế vào “Thân” (ví như Thân bị trói buộc không thực thi được những ý tưởng của Mệnh tạo).
Nếu Hóa Quyền mà không có Hóa Lộc và Hóa Khoa sánh vai, chủ về dễ bị khuynh đảo, bài xích, chèn ép; nếu lại gặp sát tinh, nhất định sẽ xảy ra nhiều tình huống khó xử.
Hóa Quyền được Hóa Lộc sánh vai, chủ về nhờ quyền lực mà đắc lộc, hoặc nhờ “lộc” mà đắc “quyền”, nhưng đừng vì thấy “Lộc Quyền gặp nhau” mà xem thường bản chất của Hóa Quyền.
Cổ nhân hay nhấn mạnh Hóa Quyền không sợ Hóa Kị, ý nói lúc Hóa Kị đến xâm phạm, Hóa Quyền dư sức áp chế. Nhưng theo phái Trung châu Vương Đình chi thì có khác, họ cho rằng ý kiến này hơi phiến diện.
Ví dụ như tinh diệu hóa Quyền ở nguyên cục lại bị Hóa Kị ở vận hạn tương xung, tức là “cây lớn thì hứng gió”, “địa vị cao thì thế nguy”, nhất là lúc “Quyền trùng điệp”, bị sao Kị xung phá, chủ về tranh giành quyền lực, nhất là khi nắm được đại quyền, sẽ dễ phạm lỗi lộng quyền.
Nếu Hóa Kị ở nguyên cục hóa làm sao quyền ở vận hạn, thì phải đề phòng lực áp chế, không phải là hỉ sự. Cần phải xem xét kỹ tính chất phối hợp của toàn cục mà định.

Hóa Khoa luận
Hóa Khoa thuộc dương thủy, chủ về “trí”, “lưu truyền”, nên là “tiếng tăm, danh dự”.
Các sách Đẩu Số thông thường cho rằng Hóa Khoa không nên gặp Hóa Kị. Ở thời cổ đại, hóa Khoa chủ về khoa cử công danh, sĩ tử cần phải xuất thân từ khoa cử thì mới dễ hiển đạt, cho nên không ưa Hóa Kị xung hội Hóa Khoa.
Ở thời hiện đại, không còn chuyên về khoa cử mới công danh hiển quý, cho nên lúc hóa Khoa và hóa Kị xung hội, thường thường chủ về nổi tiếng mà chuốc đố kị, có lúc lại chủ về nhiều người biết tiếng. Vương Đình Chi kể, ông từng đoán mệnh cho một vị luật sư, Cự môn hóa Kị ở cung mệnh, bị Thiên cơ hóa Khoa xung hội, vị luật sư nổi tiếng do tài ăn nói và cơ trí ứng biến lúc biện hộ cho thân chủ.
Nhưng thông thường, Khoa Kị tương xung dễ bị nói xấu, chê bai, dị nghị, phỉ báng, cần phải xem bản chất các sao mà định tốt hay xấu. Nếu Thái dương của cung mệnh nguyên cục Hóa Khoa, lại nhập miếu, chủ về người này ắt sẽ có danh tiếng lớn, đến Đại hạn hoặc Lưu niên không thích gặp Thái dương hóa Kị, chủ về vì có danh tiếng lớn mà chuốc điều tiếng thị phi.
Nếu gặp Thiên đồng hóa Kị, thì vì tiếng tăm mà hay gặp phiền phức và bận rộn, nên ít hưởng thụ, dễ sinh bệnh mà thôi.
Phái Trung châu có một bí truyền về Hóa Khoa, như sau:
Cung mệnh Hóa Khoa, người sinh ban ngày, đến cung hạn Thái dương nhập miếu được cát hóa, bất kể là Lưu niên hay Đại hạn, đều chủ về có thanh danh lớn. Nếu đến cung hạn có Thái dương lạc hãm, lại gặp các sao Sát Kị, thì thanh danh bị tổn thương. Cung mệnh Hóa Khoa, người sinh vào ban đêm, đến cung hạn Thái âm nhập miếu được cát hóa, cũng chủ về có danh tiếng lớn. Nếu đến cung hạn có Thái âm lạc hãm, mà gặp các sao Sát Kị, thì chủ về thanh danh bị tổn thương.
Thông thường, hai trường hợp trên, có thể xem các sao hội hợp thực tế mà định chi tiết.
Hóa Khoa thủ cung mệnh, ở cung độ lục hợp, gặp Hóa Lộc (ví dụ như hóa Khoa ở cung Tí, hóa Lộc ở cung Sửu), gọi là “Khoa minh Lộc ám”, chủ về nhờ khoa cử công danh, có tiếng tăm mà được quan lộc, hoặc được nâng cao địa vị xã hội. Đây là nhờ danh mà đắc lợi. (có thể so sánh với cách “minh lộc ám lộc”, Lộc tồn và hóa Lộc ở cung lục hợp, cũng chủ về quý hiển, đây là nhờ phú mà được quý, khác với cách “khoa minh lộc ám” là nhờ danh mà được quý).
Hóa Khoa không ưa đồng cung với Địa không Địa kiếp, chủ về khuynh gia bại sản, chỉ có hư danh, hoặc có danh vọng trong phạm vi cực nhỏ, cũng chủ về nghiên cứu triết học tôn giáo.
Hóa Khoa đồng độ với Lộc tồn, mà rơi vào cung có Địa không, Địa kiếp, nhất định sẽ bị Kình dương và Đà la giáp cung, vì vậy tuy tốt nhưng không có danh vọng. Đây gọi là “mạ không trổ bông, sao Khoa hãm ở cung hung”. Cho nên, các sao hóa thành sao Khoa, mà danh vọng chỉ giới hạn trong phạm vi nhỏ là do nguyên cớ này, lúc luận đoán phải chú ý.

Hóa Kị luận
Hóa Kị thuộc dương thủy, giống Hóa Khoa, vì lời khen và lời nói xấu có cùng một dạng năng lực là quảng bá.
Hóa Kị chủ về sóng gió, trắc trở, tổn thất, thị phi, đố kị; xem các sao hội hợp thực tế mà định tình hình cụ thể.
Hóa Kị ở các cung, phần nhiều đều là hãm địa. Như các cung Dần, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là lạc hãm, chỉ có cung Sửu là nhập miếu.
Nhưng Thái dương và Thái âm của nguyên cục nhập miếu mà hóa Kị, thì lại chủ về cát lợi, giống như “mây trôi che nhật nguyệt”, bất quá chỉ bị lu mờ một chút mà thôi. Thái âm hóa Kị ở cung Hợi, Thái dương hóa Kị ở cung Mão, theo phái Trung châu gọi là “biến cảnh”, càng chói mắt người ta, nhưng Thái dương không bằng Thái âm.
Thái dương Thái âm ở hãm địa hóa Kị thì không cát tường, làm mạnh thêm sắc thái thị phi tổn thất.
Các sao có tính chất tinh thần ở cung mệnh mà hóa Kị, cũng chủ về đầu óc trầm tĩnh, lạnh lùng. Thiên đồng hóa Kị ở cung Tuất, Cự môn hóa Kị ở cung Thìn, đều có cách “phản bối” (trở mặt).
Vì vậy không được luận đoán đại khái, hễ gặp hóa Kị lập tức cho là Hung. Mệnh cục gặp hóa Kị phải biết xem trọng sự tu dưỡng tinh thần.
Tử vi Đẩu Số luận đoán Lưu niên vận thế, điều then chốt nhất là giỏi vận dụng hóa diệu.
Như đã biết, thông thường hóa Lộc chủ về kiếm được tiền, hóa Quyền chủ về được thế, hóa Khoa chủ về danh dự địa vị, hóa Kị chủ về bị các tình huống khó xử. Người đời không thể thập toàn thập mỹ, cho nên ngoài vị thế, lợi lộc, danh tiếng ra, ắt phải có sao Kị để điểm xuyết hương vị cuộc đời. Người có kiến giải thông đạt, trong lòng sẽ không buồn phiền khi gặp Hóa Kị.
Tình hình gặp Hóa Kị ở rất nhiều loại, tình hình thường gặp nhất là “chuốc đố kị”, nhưng “không chuốc đố kị thì phần nhiều là người tầm thường”, cho nên gặp Hóa Kị cũng đừng sợ. Một tình hình khác là, xảy ra hiểu lầm không cần thiết với người khác. Hiểu lầm nhau, có lúc chưa chắc là không tốt, nếu người hiểu lầm quá xấu, thì dù có hiểu lầm, ít đi một người bạn xấu cũng hay.

Hóa Kị dễ khiến cho người ta gặp các tình huống khó xử, bị phỉ báng, nói xấu, bêu rếu. Nhưng thị phi tốt xấu rồi cũng có ngày rõ ràng.
Có lúc Khóa Kị chủ về buồn rầu lo lắng. Như cung Phụ Mẫu hóa Kị, thì có thể phải lo lắng cho sức khỏe của cha mẹ, sinh lão bệnh tử là quá trình tất nhiên của đời người, nên trong tình huống này, nên có kiến giải thông đạt một chút.
Hóa Kị cũng chủ về mắc bệnh, tuy nói là phải có kiến giải thông đạt, nhưng rốt cuộc cũng khiến cho người ta đau khổ, vì vậy trước khi sự việc xảy ra, chúng ta nên gìn giữ sức khỏe là hay nhất.
Tình hình nghiêm trọng nhất của hóa Kị là phạm pháp, hoặc bị tai họa tới tấp, nhiều khi nhìn thấy tinh hệ này, người ta thường lo láng cho tương lai. Nhưng giả dụ như biết trước được vận thế, cũng không cần phải quá bất an. nhà Phật cho rằng nghiệp lực có thể nhuyễn hóa, trọng nghiệp vẫn có thể có quả báo nhẹ, chỉ cần giữ cho lòng trung hậu, lấy lòng thành để đối đãi với người, lập thân hành sự không hổ thẹn với lòng, thì có thể xoay chuyển được vận thế.
Cho nên, gặp Hóa Kị, phải xem xét cẩn thận tính chất của hóa Kị, và phải xem trọng tu dưỡng tinh thần, giả dụ như có tính tình phóng túng, lại thường bất chấp mọi người nghĩ gì, mà không nghĩ đến việc tu dưỡng để bổ cứu, lúc những trắc trở ập đến, không được nói là “do số mệnh”.

MẪU NGƯỜI “THAM VŨ ĐỒNG HÀNH”

0

MẪU NGƯỜI “THAM VŨ ĐỒNG HÀNH”

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Mẫu người “Tham Vũ Đồng Hành” là những người có cung Mệnh an tại tứ mộ, tức là bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và có hai sao Tham Lang và Vũ Khúc tọa thủ đồng cung hoặc xung chiếu với nhau. Nếu cung Mệnh an tại Thìn và Tuất, thì Tham Lang và Vũ Khúc sẽ xung chiếu với nhau. Nếu cung Mệnh an tại Sửu và Mùi thì Tham Lang và Vũ Khúc sẽ tọa thủ đồng cung. Sau phần trình bày khái quát về cuộc đời của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành nói chung, chúng ta sẽ đi vào chi tiết để xem sự khác biệt của mẫu người tuy là Tham Vũ Đồng Hành, nhưng Tham Vũ đồng cung tọa thủ tại Mệnh có gì khác biệt với người Tham Lang thủ Mệnh và Vũ Khúc xung chiếu, cũng như Vũ Khúc thủ Mệnh và Tham Lang xung chiếu?


Trước tiên, chúng ta nói qua về đặc tính của hai sao Tham Lang và Vũ Khúc là hai chính tinh trong cách Tham Vũ Đồng Hành Cư Tứ Mộ, rồi sau đó mới nói đến hai sao phụ khác nữa là Linh Tinh và Hỏa Tinh thì mới đủ bộ và đúng cách. Tham Lang là Bắc Đẩu tinh, hành của Tham Lang có người cho là hành Thủy, có người cho là hành Hỏa và cũng có người cho là hành Mộc. Theo thiển ý của người viết thì Tham Lang thuộc hành Mộc, bởi vậy, khi Tham Lang (đào hoa) tọa thủ tại cung Tí (cung Thủy), khoa Tử Vi gọi đây là cách Phiếm Thủy Đào Hoa, nghĩa là hoa đào trôi dạt trên dòng nước. Bản tính của Tham Lang là đặt nặng vấn đề vật chất trong cuộc sống. Thích hội hè đình đám, những chỗ đông người với những cuộc vui. Tính rất năng động, háo danh, háo thắng và thích làm những chuyện lớn cho nên có nhiều tham vọng. Ưu điểm của Tham Lang là có năng khiếu về kinh doanh, có khả năng tổ chức, nhưng khuyết điểm là mau chán nản và dễ bỏ cuộc nửa chừng. Nếu Tham Lang ở các vị trí miếu hay vượng địa thì chủ về uy quyền, giàu sang và sống lâu.
Vũ Khúc cũng là Bắc Đẩu tinh và thuộc hành Kim. Bản chất của Vũ Khúc rất nghịch với Tham Lang ở điểm Tham Lang thích vui chơi ở chỗ đông người thì Vũ Khúc lại thích cô đơn, làm việc gì cũng muốn độc hành. Người có Vũ Khúc thủ Mệnh tính gan dạ, táo bạo, có khả năng tổ chức, có đầu óc kinh doanh, chủ quyền uy, danh vọng và giàu sang. Chính những điểm tương đồng này giữa Vũ Khúc với Tham Lang mà bộ Tham Vũ là một bộ sao của những tay kinh doanh có hạng trên thương trường. Có người cho rằng Tham Vũ là hai sao thuộc về võ cách, tượng trưng cho võ nghiệp thì tại sao lại hợp với lãnh vực kinh doanh? Để trả lời cho điều này, chúng ta hãy nhìn vào cuộc sống của người Hoa Kỳ cũng như cộng đồng người Việt Tỵ nạn, một số những cựu quân nhân, sau khi giã từ vũ khí, họ đã thành công một cách dễ dàng trên thương trường. Vậy phải chăng, những đức tính và khả năng cần có của một người điều binh trên chiến trường cũng cần thiết cho một người lăn lộn trên thương trường, đúng với câu mà người Trung Hoa vẫn nói: thương trường như chiến trường.


Được xem là đắc cách Tham Vũ Đồng Hành thì hai sao Tham Lang và Vũ Khúc phải đóng tại bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gọi là tứ mộ, bốn cung này thuộc hành Thổ cho nên đó là bốn vị trí miếu địa, vượng địa của hai sao Tham Vũ. Một điều kiện quan trọng khác là tại bốn vị trí này, bộ Tham Vũ phải gặp một hoặc cả hai sao Linh Tinh, Hỏa Tinh. Hai sao Linh Hỏa có thể đồng cung, xung chiếu hay tam hợp chiếu với hai sao Tham Vũ thì mới đầy đủ uy lực mà khoa Tử Vi thường gọi là cách Tham Vũ đồng hành cư tứ mộ, ngộ Linh, Hỏa hào phú gia tư, hầu bá chi quý. Có nghĩa là người Mệnh an tại bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có Tham Lang và Vũ Khúc đồng cung hay xung chiếu, lại thêm có một hoặc hai sao Hỏa Tinh, Linh Tinh chiếu vào là số giàu sang, phú quý như bậc hầu bá dưới thời phong kiến ngày xưa.
Điều mà chúng ta lưu ý ở đây là sự thành công, phú quý của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành không phải từ quan trường, mà chính là từ thương trường. Như trên chúng ta đã nói, mẫu người Tham Vũ Đồng Hành rất gan dạ, tự tin, nhiều tham vọng, có óc tổ chức và có năng khiếu về thương mãi, cho nên họ là những tay kinh doanh có tầm vóc chứ không phải chỉ làm ăn buôn bán lẻ tẻ. Đó phải chăng là do sự ảnh hưởng kỳ diệu của vòng Ngũ Hành tương sinh trong cách này: hành Hỏa của Linh Tinh, Hỏa Tinh một mặt phù trợ cho hành Thổ của bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi để tương sinh cho hành Kim của Vũ Khúc, đồng thời cũng đốt cho Kim này thành Thủy để dưỡng Mộc của Tham Lang, rồi Mộc của Tham Lang lại là củi cho ngọn lửa Linh, Hỏa cháy bùng lên…
Một đặc điểm khác đáng lưu ý của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành là vì ảnh hưởng của Vũ Khúc, cho nên mẫu người này thường lao đao, lận đận trong tiền vận, và sớm lắm thì cũng phải qua trung vận, đa số phải đến hậu vận mới có thể gọi là thành công như ý muốn và lúc đó cơ nghiệp mới có thể bền vững được.
Hỏa Tinh và Linh Tinh là hai sao Hỏa, cho nên lúc phát thì sẽ giúp cho bộ Tham Vũ phát rất nhanh, nhưng nếu phát không đúng vào thời vận thì cũng chỉ như ngọn lửa rơm, bùng lên rồi cũng tắt đi một cách nhanh chóng. Nếu biết được lý lẽ này, mẫu người Tham Vũ Đồng Hành chẳng nên bôn ba sớm trong cuộc đời mà chuốc nhiều phiền não, đắng cay. Điều này rất nhiều người đã biết, nhưng họ không cam lòng, để cuối cùng cũng nói được một câu an ủi với chính mình như Nguyễn Du đã nói: càng phong trần danh ấy càng cao! Đặc điểm này thấy rõ nhất ở những người Tham Vũ Đồng Hành mà Mệnh an tại hai cung Sửu và Mùi, hai sao Tham Vũ sẽ đồng cung, khắc chế nhau mạnh mẽ trong tiền vận (khoảng 33 hoặc 36 tuổi) khiến cho đương số bao lần thấm mệt và sớm ngộ được cái ý nghĩa của câu: có tài mà cậy chi tài… Phải qua trung vận và bắt đầu vào hậu vận thì sự nghiệp của người Tham Vũ Đồng Hành có Mệnh an tại Sửu hay Mùi mới được ổn định và bền vững cho đến cuối cuộc đời.

Nói đến sự thành công của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành nhanh hay chậm, bền vững hay ngắn ngủi thì chúng ta cũng nên lưu ý trường hợp nếu Mệnh an ở tứ mộ, có Tham Lang tọa thủ đồng cung với Hỏa Tinh, thì đây còn gọi là cách Tham Hỏa Tương Phùng, nếu gặp Linh Tinh thì gọi là cách Tham Linh Tịnh Thủ, cũng là những dạng của Tham Vũ Đồng Hành, nhưng với cách này, khi đến thời, đương số sẽ phát rất nhanh vì ảnh hưởng mạnh mẽ của Ngũ Hành tương sinh giữa Tham Lang thuộc Mộc và Hỏa Tinh thuộc Hỏa đồng cung với nhau. Tuy nhiên, công danh sự nghiêp dù có phát rất nhanh chóng, nhưng cũng chẳng giữ được lâu bền, vì đây cũng chỉ là cách bạo phát, bạo tàn mà thôi.
Tương tự như vậy, chúng ta xét đến vị trí của hai chính tinh Tham Vũ tại tứ mộ. Đối với những người Tham Vũ Đồng Hành mà Mệnh an tại hai cung Thìn và Tuất thì sự khắc chế của hai sao Tham Vũ tương đối nhẹ hơn vì nằm trong vị trí xung chiếu nhau, vì vậy, sự nghiệp của mẫu người này sẽ thành đạt sớm hơn, nhưng mức độ của sự thành đạt lại không có kích thước bằng những người Mệnh an tại Sửu Mùi.

Và một điểm khác biệt nữa là cá tính của mỗi mẫu người Tham Vũ Đồng Hành sẽ có sự khác biệt tùy theo cung an Mệnh. Khi Mệnh an ở Thìn Tuất thì nếu chúng ta giao tiếp với những người này, chúng ta sẽ nhận ra họ như có hai con người khác nhau: một con người vì ảnh hưởng của Vũ Khúc nên thường sống cô độc, suy nghĩ và quyết định một mình, nhưng khi ra ngoài, sao Tham Lang lại làm cho họ thành một con người khác, họ biết nói, biết làm cho vui lòng người khác, mặc dù trong thâm tâm họ không thích như vậy, và phải chăng đây cũng là một đặc tính giúp họ thành công trong lãnh vực kinh doanh?
Tóm lại, mẫu người Tham Vũ Đồng Hành là một mẫu người lý thú khi chúng ta quen biết hoặc hợp tác trong vấn đề làm ăn mua bán với nhau. Họ là những người có cá tính rất mạnh, gan lì, táo bạo và nhiều tham vọng. Địa bàn giúp họ thành công là thương trường. Và thời điểm mà họ xây dựng được sự nghiệp như ý là hậu vận của cuộc đời.

Tham Lang II

0

Tham lang

Thuộc tính ngũ hành của sao Tham lang là dương mộc (khí – bên ngoài), là âm thủy (thể – bên trong), là ngôi sao thứ nhất trong chòm Bắc Đẩu. Hóa khí là đào hoa, chủ về họa phúc, dục vọng.

Trong lá số, sao Tham lang và sao Thất sát, Phá quân luôn nằm ở cung vị tam phương hội chiếu, nên được gọi chung là Sát Phá Lang – đây chính là điểm chuyển ngoặt đánh dấu những biến động lớn trong vận mệnh. Nếu vận hạn gặp sao này, lại gặp sát tinh hay bị sát tinh hội chiếu, sẽ là “Trúc la tam hạn” chủ về đại hung. Nhưng tính chất biến động của sao Tham lang là yếu hơn, so với Thất sát và Phá quân, chủ yếu thiên về “tửu sắc tiền tài“.

Tham lang là một ngôi sao chủ về đa tài đa nghệ, mang tính đào hoa, phạm vi tài nghệ rất rộng, không những có tài nghệ thuật, còn có sở trường về ngôn ngữ, là nam giới tinh thông cầm kỳ thi họa, là nữ giới khéo nữ công gia chính, đều am hiểu lễ nghĩa, có chừng có mực, vì yêu cầu của công việc nên thường xuyên phải tham gia tiệc tùng ngoại giao, khó tránh khỏi sa đà vào sắc dục.

Sao Tham lang là thần dục vọng, là sao đào hoa, có thể ban phúc, cũng có thể giáng họa, nên thiện ác lẫn lộn, gặp Cát sẽ chủ về quý, gặp Hung sẽ chủ về phù phiếm giả tạo, lúc thì thao thao nhân nghĩa đạo đức, lúc lại bị cuốn theo sắc dục mà không còn biết đến lễ nghĩa liêm sỉ, tính tình phóng đãng. Trạng thái họa phúc của sao Tham lang có liên quan đến khái niệm nhân quả, tức gieo mầm thiện được phúc báo, gieo mầm ác gặp quả báo.

Thuộc tính ngũ hành của sao Tham lang thuộc Giáp mộc, Giáp đứng đầu mười thiên can, nên mang nghĩa “mở đầu”; Mộc chứa sinh khí, có xu thế phát triển, bởi vậy ranh giới giữa thiện và ác của sao Tham lang thường rất mỏng manh. Lại vì Tham lang tuy thuộc Mộc, nhưng gốc lại thuộc Thủy, nên tại Số khí hóa là Đào Hoa, khiến cho tính chất của sao Tham lang có xu hướng đào hoa, ưa thích chuyện phóng đãng dâm dật, thường xuyên thay đổi, tính thích so bì kèn cựa, nhiều tham vọng, quá thông minh khôn khéo mà bị mang vạ. Nếu Tham lang nằm cùng cung với Văn Xương (sao Giờ) và Vũ khúc, chủ về phù phiếm giả dối, đào hoa, một đời liên tục vấp phải các rắc rối về tình cảm.
Sao Tham lang khi làm sao Thiên Tài, thì tiền của đấy là trong thành có bại, trong được có mất. Bởi vậy, khi Tham lang gặp sao Chính tài là Vũ Khúc, sẽ không thành tựu cho người trẻ tuổi, thành đạt sớm sẽ phá sản sớm, sau năm 35 tuổi phát tài mới có thể giữ được.

Sao Tham lang cũng chủ về tính hưởng thụ, thiên về những hưởng thụ cao cấp về mặt vật chất, thích tiêu pha nên dễ thành hoang phí, điều này nhiều khi do môi trường sống tạo thành, nên có khác với tính chất hưởng phúc của sao Thiên đồng.

Trong số các ngôi sao của Tử Vi Đẩu Số, thì sao Tham lang ưa được Sát tinh xung phá nhất. Nếu sao Tham lang nằm cùng cung với Hỏa tinh hay Linh tinh, thì hành Hỏa của hai sao Hỏa Linh sẽ khắc chế hành Thủy ở gốc của Tham lang, mà được Mộc tương sinh. Đặc biệt là dương Hỏa của Hỏa tinh sẽ khắc chế được âm Thủy của sao Tham lang, khắc một cách hữu tình, tạo thành cách “Hỏa Tham” hoặc “Linh Tham“, nên trong cuộc đời sẽ có những biểu hiện mang tính đột phá, tăng cường sức mạnh của sao Tham lang, theo nghiệp Võ sẽ hiển đạt. Nếu Thân lại ở Hóa Lộc sẽ phát tài chóng vánh. Nếu sao Tham lang rơi vào cung Không Vong, hoặc gặp sao Hóa Kị, sẽ lại trở thành đoan chính, ức chế được các đặc tính đào hoa, như tửu, sắc, tiền, tài, và phát huy được những tài năng nghệ thuật. Nếu sao Tham lang nằm cùng cung với Địa không, Địa kiếp, chủ về có những kỹ năng, kỹ thuật chuyên sâu sở trường.

Sao Tham lang tuy ưa gặp được Sát tinh xung phá, nhưng lại khó chống đỡ nổi sát khí của các sao Đà la, Kình dương. Nếu như Tham lang đồng cung với Đà la hay Kình dương, lại gặp các sao Địa không, Địa kiếp, Hỏa tinh, Linh tinh, Hóa Kị, sẽ khiến cho Tham lang khó phát huy được tiềm năng, nên chủ về vất vả lao lực, nhờ vào tài khéo, kỹ nghệ để mưu sinh, dễ trở thành kẻ tiểu nhân hèn kém.

Sao Tham lang gặp Phá quân, dễ mất mạng vì ham mê tửu sắc. Nếu gặp Lộc tồn chủ về cát lợi. Gặp ám (Cự môn), hao (Phá quân), chủ về phù phiếm giả tạo. Gặp tù (Liêm trinh) chủ về không trong sạch. Gặp sát cô (Thất sát) dễ mắc hình ngục tù đầy. Gặp Kình Đà dễ mắc bệnh trĩ. Gặp hình (Kình dương), kị (hóa Kị) trên người có vết chàm.

Sao Tham lang gặp Hóa Lộc Hóa Quyền, chủ về phát tài đột ngột, có tiền của bất ngờ. Kị nhập cung Thủy (Hợi Tí), sẽ là tượng “Phiếm thủy đào hoa” (đào hoa trôi nổi), nếu lại gặp thêm các sao đào hoa khác như Hồng loan, Thiên hỷ, Thiên diêu, đường tình duyên càng thêm phức tạp. Sao Tham lang nếu nhập Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, gọi là “Tài nhập khố v” (Của nhập vào kho), không bị Thiên la Địa võng khống chế, hơn nữa còn có được khả năng giải trừ tai ách.

Sao Vũ khúc và sao Tham lang gặp miếu, trấn mệnh tại Sửu, Mùi, là cách “Tham Vũ đồng hành“, chủ về thành tựu muộn, gặp được thời cơ tốt đẹp sẽ thành công nhanh chóng (nếu như Thái dương và Thái âm lại kèm ở hai bên cung Mệnh, là cách “Nhật Nguyệt giáp mệnh” chủ về giầu có suốt đời).
Nếu sao Tham lang nhập miếu, trấn mệnh tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, lại nằm cùng cung với Hỏa tinh (hoặc Linh Tinh) là cách “Hỏa Tham” (hoặc “Linh Tham“), sẽ là người trợ tá đắc lực, thành tựu nhanh chóng.
Sao Liêm trinh nhập miếu, trấn mệnh tại Thân, Dần, lại có sao Tham lang tại cung đối diện chầu chiếu, là cách “Hùng tú triều nguyên“, sẽ đảm nhiệm chức vụ quan trọng.
Sao Tử vi và sao Tham lang trấn mệnh tại Mão, Dậu, lại gặp Địa không, Địa kiếp, bốn sát tinh hoặc Hóa Kị, là cách “Cực cư Mão Dậu“, muôn sự bất lợi, là mệnh tăng ni thoát tục.
Sao Tham lang trấn mệnh tại Hợi Tí, lại gặp hình (Kình dương), Hóa Kị, là cách “Phiếm thủy đào hoa”, chủ về phong lưu đa tình.
Tham lang và Kình dương cùng đóng tại cung Mệnh, là cách “Phong lưu thái trượng“, là người thông minh nhưng rất phong lưu.

Sao Tham Lang tại Khí là dương Mộc, tại Thể là âm Thủy, là thọ tinh, thiên tài tinh, hóa khí thành đào hoa chủ về họa phúc, là quỷ đa dục, là sao đào hoa bậc nhất.


SAO THAM LANG TỌA THỦ CUNG MỆNH

Dung mạo và tính cách

Người có sao Tham Lang tọa thủ cung Mệnh, là người mắt thành mày tú, ắt mắt linh hoạt, lời nói tự nhiên, có sức hấp dẫn với người khác giới. Khi nhập miếu thì người to béo, lạc hãm người thấp bé.
Cá tính thô bạo chủ về hướng ngoại hiếu động, túc trí đa mưu mà biết cách hòa đồng với người khác. Tính cách hỷ nộ thất thường lại hay kỳ vọng vào bản thân. Biết nghĩ sâu xa mà dám nói dám làm, thích cái mới ghét cái cũ, yêu hận khó định, nội tính giỏi che lấp mưu kế để thuận lòng người. Làm việc chăm chỉ, có sức mạnh tác phong nhanh nhẹn, không sợ vất vả.
Đa tài đa nghệ, học rộng nhưng không tinh thông. Thích đầu tư mạo hiểm nên không chịu đứng yên. Tính phóng đãng, giỏi ăn nói lại có duyên với người khác giới, giao tiếp ứng biến mà hiểu ý người, biểu hiện tính dục mạnh lại thường gian tà nham hiểm. Tửu, sắc, cờ bạc đều tinh thông, tính thích tiêu xài hưởng thụ, cuộc sống muôn mầu muôn vẻ.

Mệnh nữ dung mạo xinh đẹp, nho nhã hoạt bát, có duyên với người khác giới, giác quan thứ sáu nhạy bén, sau khi kết hôn thích làm việc bên ngoài, thích giao tiếp xã hội, đa số không chịu lo việc nhà.

Suy đoán tính mệnh

Tham lang + 2

Liêm trinh + 2

Tham lang + 3 Tham lang + 4

Vũ khúc + 4

Tham lang = 0
Tham lang + 4 Tử vi + 3

Tham lang + 1

Tử vi + 3

Tham lang + 1

Tham lang + 4
Tham lang = 0 Tham lang + 4

Vũ khúc + 4

Tham lang + 3 Tham lang + 2

Liêm trinh + 2

Độ sáng của sao Tham lang tọa thủ 12 cung

Chữ số trong bảng biểu thị độ sáng của sao Tham Lang.
Mối quan hệ của chúng như sau:

– Miếu = + 4
– Vượng = + 3
– Địa = + 2
– Lợi = + 1
– Bình hòa = 0
– Không đắc địa = – 1
– Hãm địa = – 2

Sao Tham lang tại Khí thuộc dương mộc, đại diện cây cao to, cây cao vì vậy mà nhìn được rất xa, cũng khá thực tế và thực dụng.

Sao Tham lang tại Thể thuộc âm thủy, vì vậy nhiều dục vọng, hư vinh, tham lam, thích hưởng thụ. Lại vì sao Tham lang là sao Đào hoa bậc nhất nên bản thân rất có sức hấp dẫn với người khác giới, nên thường ứng biến theo hoàn cảnh tự nhiên, hoặc thường bước chân đến nơi thanh sắc, âm nhạc; đồng thời có khả năng giao tiếp ứng biến linh hoạt khéo léo.

Sao Tham lang chủ về phúc họa, thường ở giữa thiện và ác, thông thường gieo nhân thiện thì được quả phúc, giao nhân ác thì được quả họa.

Sao Tham lang và sao Thất sát, Phá quân trong mệnh bàn thường tam phương hội chiếu, là mấu chốt thay đổi cuộc đời, cùng hiển thị tính thay đổi, tính sáng tạo và tính cạnh tranh. Nhưng sự thay đổi biến động của sao Tham lang không chỉ nhỏ hơn sao Thất sát, mà lại càng nhỏ hơn so với sao Phá quân, tính chất thiên về tửu, sắc, tài, khí. Sự thay đổi của sao Thất sát trong cô độc có dũng, có mưu. Sự thay đổi của sao Phá quân thì bất chấp tất cả để tiến về phía trước. Sự thay đổi của sao Tham lang là để có được tiền đồ đem lại sự cạnh tranh với người khác là động lực để thay đổi.

Người có sao Tham lang tọa thủ cung Mệnh, thường có những hiện tượng:
1)- Tự tin đồng thời giỏi bộc lộ sở trường của bản thân, có thể dũng cảm đối mặt với cạnh tranh, thích ứng với mọi sự thay đổi, có chí tiến thủ và sáng tạo.
2)- Có khả năng đánh giá, kiểm nghiệm được – mất trong cuộc cạnh tranh đã qua, vì vậy không ngừng tiến bộ và phát triển, thông qua đó nắm được thành – bại của cuộc cạnh tranh trong tương lai, đồng thời yêu cầu sự hoàn mỹ.
3)- Ham mê tửu sắc, đồ ăn ngon, dùng tiền bạc để thúc đẩy mối quan hệ, đồng thời có thể hóa giải được tiềm năng của tai họa.
4)- Có quan niệm theo đuổi cái mới, có thể thúc đẩy trào lưu mới, thu hút sự chú ý của người khác mà hành vi lại xuất chúng.
5)- Dũng cảm thử nghiệm với những điều mới mẻ, nắm bắt thông tin rộng.
6)- Để kiên trì ý kiến của bản thân thường không nhận thua, cũng vì không chịu nổi cảm giác mình sẽ bị thua mà thiếu đi sự sáng suốt khi nhìn nhận bản thân.
7)- Thường có lòng cạnh tranh, trong công việc cũng hay gặp phải cạnh tranh, trong cạnh tranh lại đắc ý đắc thắng, vì vậy mà rất biết tính toán được mất, đồng thời thường hay có được có mất, khi trong lòng mất cân bằng thường trút giận lên người khác.

Sao Tham Lang giỏi về giao thiệp ứng biến, nhưng lại có những điểm khác với sao Thiên cơ và sao Liêm trinh:
– Sao Thiên cơ giỏi sách lược và phân tích, đồng thời thiên về thay đổi; về phương diện được mất, có thể tùy duyên. Sự giao thiệp của sao Liêm trinh khéo léo, có chỗ khuếch trương, đồng thời thiên về tính chất đào hoa, do tự biết mình nên thường giữa được và mất có thể hiểu được. Còn sao Tham lang vốn đa tài đa nghệ, giỏi cầm kỳ thư họa, ca hát khiêu vũ, mọi việc đều tinh thông, có tài nghệ trong giao tiếp ứng biến, thường có thể đứng ngoài hiểu được sự tình, nghe 1 biết 10, dễ dàng học hỏi, lại thêm khả năng đánh giá đặc biệt về được và mất, vì vậy mà tự đòi hỏi và yêu cầu bản phải trở thành nhân vật nỏi bật trong giao tiếp.
– Sao Tham lang nếu có thể chính diện vận dụng đặc tính thích tính toán, đánh giá được – mất để thay đổi tập tính không tốt của bản thân, mở rộng tấm lòng mình hơn thì có thể phát huy được tài năng giao tiếp ứng phó của bản thân. Vận dụng tính thay đổi, tính sáng tạo và tính cạnh tranh, không ngừng tiến bộ và phát triển, tự nhiên có thể phát huy được tiềm năng để đột phá. Có lúc chủ động tránh cạnh tranh, đồng thời bồi dưỡng tài nghệ về văn học, nghệ thuật, thì có thể dễ dàng tích lũy được nhiều thành công.

Sao Tham lang không hợp với mệnh nữ, vì Tham lang là sao đào hoa bậc nhất, lại là Thiên tài tinh, mệnh nữ gặp Tham lang thủ mệnh thì đa phần có tiền mà lại thanh nhàn, lại thêm tính hướng ngoại hiếu động, nhiều dục vọng thích hưởng thụ, kết bạn rộng rãi nên khó tránh khỏi không chịu được cô đơn, không ở yên trong nhà. Nên tu thân dưỡng tính, đồng thời nên giữ mình trong sạch.

Sao Tham lang nhập tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, là tài nhập khố, lại thuộc thế miếu, nên không những được trường thọ, mà còn có thể giảm bớt tệ tửu, sắc, tài, khí, lại có thể phát huy tài nghệ.

Sao Tham lang thích nhất gặp Hỏa tinh, Linh tinh khi nhập cung mệnh, dương hỏa của Hỏa tinh khắc chế âm thủy gốc của Tham lang, dương khắc âm là “hữu tình khắc“, trong khắc có sinh, nếu không gặp Kình Đà đồng cung thì cấu thành mệnh cách Hỏa Tham hoặc Linh Tham, phát huy sức mạnh, có tướng làm tướng, uy quyền giầu có, có thể được phong vương hầu. Nếu có thêm Hóa Lộc và Hỏa tinh hoặc Linh tinh đồng cung thì đa phần có hoạch tài đột phá.

Sao Tham lang gặp Tiệt lộ, có thể làm cho thiên hướng tửu, sắc, tài, khí của Tham lang giảm thiểu, đồng thời làm cho tài nghệ được phát huy. Sao Tham lang nhập miếu đồng cung với Hóa Kị, Địa kiếp, Địa không đa phần là có kỹ thuật chuyên môn, nên yên thân với kỹ nghệ.

Tham lang nhiều dục vọng, lại là sao đào hoa bậc nhất, khi gặp Hóa Kị thì có nhiều ảo tưởng, có phúc mà không biết hưởng, chỉ mơ tưởng đến những điều không thể thành hiện thực, thành ra lại sinh nhiều chuyện thị phi đào hoa. Tham lang tuy thích 4 sát tinh Hỏa Linh Không Kiếp, nhưng lại kị 2 sát tinh Kình dương và Đà la, dễ vì sắc mà gặp họa.

Tham lang gặp Văn xương, Văn khúc đồng cung, do Xương Khúc đều là sao thời hệ, làm cho dục vọng của Tham lang ngày càng thay đổi, tài nghệ chủ về hư mà không thực, chuyện đào sắc thị phi là vô cùng.

Tất cả các sao đều sợ sao Hóa Kị, đặc biệt là ba sao Liêm trinh, Tham lang và Thiên cơ càng sợ sao Hóa Kị. Sao Liêm trinh là sao “tù”, khi Hóa Kị thành bị thắt chặt, không thể mở ra, thân và trái tim bị đóng chặt, hàng ngàn khó khăn, tai họa không nhẹ. Sao Thiên cơ chủ về lo xa, chu đáo, sao Thiên cơ hóa Kị thì mọi việc đều có sai xót, càng lo lắng thì càng có vấn đề. Sao Tham lang là quỷ dục vọng, sao Tham lang Hóa Kị thì dục vọng quá cao nên mọi cố gắng cuối cùng cũng bằng không.

Tham Lang I

0

Tham Lang I

(Tuvivietnam – siêu tầm)

Tham lang là sao thứ nhất của Bắc Đẩu, trong ngũ hành thuộc dương Mộc, khí của nó thuộc Thủy. Trong Đẩu Số, Tham lang là sao ham muốn vật chất, đồng thời cũng chủ theo đuổi ham muốn dục tình, do đó hóa khí làm “đào hoa”.

      Luận đoán về Tham lang, phải xem cấu tạo tinh hệ của nó thiên nặng về ham muốn vật chất, hay thiên nặng về ham muốn dục tình, để làm sự đánh giá toàn thể, mà không thể gọi chung chung là “đào hoa”.

Hệ “Sát Phá Tham” là then chốt của “biến hóa thay đổi”, nên Tham lang cũng chủ về “biến hóa thay đổi”, động cơ “biến hóa thay đổi” của Tham lang xuất phát từ sự theo đuổi ham muốn vật chất, hay theo đuổi ham muốn dục tình.

Khi tinh hệ Tham lang có cấu tạo không được tốt, thì lòng ham muốn vật chất tăng nặng, có thể dùng câu nói “quá đáng” để hình dung. Mệnh cách thường thường vì tư lợi bản thân mà dễ dàng thay đổi quan hệ giao tế, cho đến thích trang điểm cho mình.

Cổ nhân nói “Tính của nó thì quyền biến, nhiều mưu kế, hay thừa nước đục thả câu, yêu cái ác một cách bất định, gian trá gạt người” (Chủ kỳ tính tắc cơ quan, tất đa kế giảo, tùy ba trục lãng, ái ác vô định, gian trá man nhân). Đây là nói về bản chất động cơ “biến hóa thay đổi” của Tham lang, hoàn toàn khác với sự “biến hóa thay đổi” của Thất sát và Phá quân.

Khi tinh hệ Tham lang có cấu tạo tốt, chủ về người “biến hóa thay đổi” một cách tích cực, thậm chí có thể nhìn thấy đó là biểu hiện của tài nghệ. Sự “biến hóa thay đổi” của Tham lang lúc này chẳng phải là “quá đáng”, mà là thủ pháp khéo ăn khéo ở, tác động trong vô hình, khiến có lợi cho bản thân; hoặc đây là sự “biến hóa thay đổi” nhằm phát huy tài nghệ, khiến bản thân được người ta hoan nghênh.

Cấu tạo tinh hệ Tham lang trong tình huống “hội sao” như thế nào thì chủ về ham muốn vật chất ? trong tình huống “hội sao” như thế nào thì chủ về ham muốn tình dục ?

Tham lang ở bốn cung Vượng, tức bốn cung độ Tý Ngọ Mão Dậu, có cấu tạo tinh hệ ham muốn vật chất rất nặng. Nhưng phải là người sinh năm Dần Ngọ Tuất có Mệnh ở Ngọ, người sinh năm Thân Tý Thìn có mệnh ở Tý, người sinh năm Hợi Mão Mùi có mệnh ở Mão, người sinh năm Tị Dậu Sửu có mệnh ở Dậu, vậy mới đúng, nếu không, thì lại là cách “đào hoa phạm chủ” là tổ hợp chủ về ham muốn tình dục.

Ở bốn cung vượng này, hoặc Tham lang độc tọa đối nhau với Tử vi, hoặc hợp thành hệ “Tử vi Tham lang” đồng độ. Cổ nhân nói “Tham lang ở cung vượng, suốt đời trộm cắp như chuột” (Tham lang cư vượng, chung thân thử thiết), “Tham lang và Tử vi đồng cung, nếu không có kềm chế, là người vô ích” (Tham lang Tử vi đồng cung, như vô chế thị vi vô ích chi nhân), tức là nói ham muốn vật chất quá nặng, nói “chế” là ám chỉ “bách quan triều củng”.

Tham lang và Vũ khúc đồng cung hoặc đối củng, cũng thiên nặng về ham muốn vật chất. Cổ nhân nói “Tham lang và Vũ khúc đồng cung, là người xu nịnh gian tham, tự tư tự lợi” (Tham lang Vũ khúc đồng cung, vi nhân sưu nịnh gian tham, tự tư tự lợi). Nếu có Lộc tồn đồng độ, thì làm mạnh thêm tính tự tư ích kỷ của Tham lang, nếu Tham lang Hóa Lộc thì ham muốn vật chất càng nặng, cần phải có Hỏa tinh hoặc Linh tinh chế hóa, thì tài năng của Tham lang mới hiển lộ được, nếu không, chỉ là chìm đắm trong ham muốn vật chất.

Hệ “Liêm trinh Tham lang” đồng độ ở Tị hoặc ở Hợi, về cơ bản đây là cấu tạo chủ về ham muốn dục tình, gặp các sao đào hoa hội hợp, từ ham muốn biến thành hành động cụ thể về dục tình, nhu cầu nhục dục rất cao. Cổ nhân nói “Liêm trinh và Tham lang đồng cung, nam thì phóng đãng, nữ thì tham dâm, vì tửu sắc mà chôn thân” (Liêm trinh Tham lang đồng cung, nam lãng đãng, nữ tham dâm, tửu sắc táng thân), “Tham lang và Liêm trinh cùng ở Tị hoặc Hợi, đã không trong sạch mà còn bị hình khắc” (Tham lang Liêm trinh đồng Tị Hợi, bất thuần khiết thả tao hình).

Phàm, Tham lang thủ mệnh, bất kể là độc tọa hay có sao khác đồng độ, mà có Kình dương, Đà la cùng đến, hoặc giao hội ở tam phương, cũng chủ về ham muốn dục tình của nó nặng thêm, trường hợp có Hỏa tinh, Linh tinh cùng đến hoặc giao hội ở tam phương là kế đó. Cổ nhân nói “Tham lang mà thêm sát tinh đồng cung, nữ thì trộm điểm trang còn nam thì trộm như chuột” (Tham lang gia sát đồng hương, nữ thâu hương nhi nam thử thiết), “Kình dương và Đà la giao nhau với nó, ắt làm quỷ phong lưu” (Dương Đà giao tinh, tất tác phong lưu chi quỷ).

Phàm chế hóa Tham lang, phải gặp Thiên hình và sao Không.

Hiểu rõ những phân biệt này, mới biết được trong tình huống nào thì Tham lang ưa gặp các sao Hình Sát, và trong tình huống nào thì Tham lang không ưa gặp các sao Sát Hình; trong tình hình nào thì Tham lang ưa gặp sao Lộc, và trong tình hình nào thì Tham lang không ưa gặp sao Lộc.

Tham lang phân bố trong 12 cung, sẽ đồng độ hoặc đối nhau với ba sao Vũ khúc, Tử vi và Liêm trinh, cho nên ba sao này có mối quan hệ rất sâu sắc với Tham lang.

Ở Tý hoặc ở Ngọ, Tham lang độc tọa, đối củng với Tử vi, ở Mão hoặc ở Dậu thì Tham lang đồng độ với Tử vi. Cho nên ở bốn cung vượng Tý Ngọ Mão Dậu đều cấu tạo thành hệ “Tử vi Tham lang”.

Ở Thìn hoặc ở Tuất, Tham lang độc tọa, đối củng với Vũ khúc, ở Sửu hoặc ở Mùi, thì Tham lang đồng độ với Vũ khúc. Cho nên, ở bốn cung “mộ” Thìn Tuất Sửu Mùi đều cấu tạo thành hệ “Tham lang Vũ khúc”.

Ở Dần hoặc ở Thân, Tham lang độc tọa, đối củng với Liêm trinh, ở Tị hoặc ở Hợi thì Tham lang đồng độ với Liêm trinh. Cho nên, ở bốn cung “sinh” Dần Thân Tị Hợi được cấu tạo thành hệ “Tham lang Liêm trinh”.

Trong Đẩu Số, có hai cách rất nổi tiếng là “Hỏa Tham” và “Linh Tham”, chủ về phát đạt rất nhanh (hoạch phát). Hai cách này thuộc hệ “Tham lang Vũ khúc” là tối cao, còn ở các cung khác là kế đó.

Ngoài ra còn có cách “Đào hoa phạm chủ”, trường hợp “Tham lang Tử vi” đồng độ là chính cách, còn trường hợp “Tham lang Tử vi” đối củng là kế đó.

Các cách này, trừ trường hợp “Tham lang tọa cung Vượng” chủ về ham muốn vật chất, các tình hình khác đều thuộc về ham muốn dục tình, thảy đều phải gặp Thiên hình và sao Không mới là cách “thanh bạch”.

Ngoài những tình huống trên, Tham lang còn có một số cấu tạo đặc thù, như:

–      Tham lang ở Ngọ, gọi là “Mộc hỏa sáng thông nhau” (Mộc hỏa thông minh).

–      Tham lang ở Thân, gọi là “Mộc bị Kim khống chế” (Mộc phùng Kim chế)

–       Tham lang ở Tý có Kình dương đồng độ, hoặc ở Hợi có Đà la đồng độ, gọi là “Phiếm thủy đào hoa” (Phiếm thủy đào hoa).

–      Tham lang ở Dần có Đà la đồng độ, hoặc hội với hệ “Thiên hình Kình dương”, gọi là “Cầm gậy phong lưu” (Phong lưu thái trượng).

Nói về tính ưa ghét, Tham lang rất ghét Văn xương, Văn khúc. Bởi vì bản thân Tham lang đã thông minh tài trí, nếu gặp thêm Văn xương Văn khúc, thì biến thành tính không thiết thực, sốc nổi bốc đồng, Tham lang không ưa Hóa Kị cũng vì lý do này, cổ nhân nói “Có Văn xương Văn khúc đồng độ, ắt nhiều giả mà ít thực” (Xương Khúc đồng độ, tất đa hư nhi thiểu thực), thậm chí nói “Văn xương và Tham lang ở mệnh, thân tan xương nát” (Xương Tham cư mệnh, phấn thân toát cốt).

Phàm luận đoán về sao Tham lang thủ mệnh, cần đồng thời xem kèm cung Thân. Tham lang thủ cung Mệnh còn Thất sát thủ cung Thân, đồng thời hội Sát tinh; hoặc giả Tham lang thủ cung Mệnh còn Phá quân thủ cung Thân, đồng thời hội Sát tinh; Thảy, đều có cấu tạo không cát tường, chủ về ưa thích riệu chè cờ bạc trai gái, hoặc hiếu sắc, đều là tổ hợp tinh hệ có cấu tạo thiên nặng về ham muốn dục tình lẫn ham muốn vật chất. Nếu không gặp các sao Không, sao Hình, mà lại gặp Văn xương Văn khúc, thì tình hình càng đúng.

ST

Hướng dẫn sử dụng web site tuvivietnam.vn

0

Kính thưa bạn hữu gần xa.

Để đáp ứng nhu cầu học hỏi , tra cứu tử vi. Web site tuvivietnam.vn sẽ cung cấp thư viện đồ sộ các kiến thức về tử vi. Các bài viết hay sẽ được đăng lên nhằm mục đích chia sẻ tới rộng rãi tới những người quan tâm tới tử vi. Do thời gian tìm tòi các bài viết, và sự lớn mạnh của tử vi nên chúng tôi không thể truy nguyên nguồn gốc hay tác giả của các bài viết. Chúng tôi cảm ơn các bậc học giả đã không ngại ngần chia sẻ kiến thức, các công trình nghiên cứu lên Internet . Nếu bài đăng tại Tử Vi Việt Nam có điều gì thiết sót hay chưa đúng hãy cho chúng tôi biết để sửa lại và thêm danh tính qua email:  [email protected]

Web site được chia thành các thành phần chính như sau :

  1. Mục Tử vi

Đây là mục nói về tính lý chư tinh của các sao, các tinh đẩu. Nhằm mang đến bạn đọc kiến thức cơ bản nhất về tử vi, dễ dàng tra cứu . Click vào chữ Tử Vi để xem toàn bộ các bài viết

2. Mục Tử Vi Cách Cục Luận

Đây là phần nâng cao của Tử Vi, chuyên nói về các cách cục. Giúp bạn đọc tra cứu dễ dàng các cách cụ mình cần .

3. Cung Vị

Đây là phần nói chi tiết về các cung chức năng, giúp bạn đọc dễ dàng tìm kiếm các cung vị mà mình muốn.

4. Tứ Hóa

Là phần các bài viết nghiên cứu về tứ hóa.

.5. Dịch Lý

Lưu trữ những bài viết hay về Kinh Dịch, giúp bạn đọc dễ dàng khảo cứu Kinh Nghĩa và các Quẻ Dịch

6. Tứ Trụ

Là nơi lưu giữ các bài viết về Bát Tự – Tứ Trụ – Tử Bình.

 

Thân Ái

Xem Thêm:

LẬP LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẤY LÁ SỐ TỨ TRỤ

LẬP LÁ SỐ TỬ VI

LẤY LÁ SỐ TỬ VI

LẬP QUẺ DỊCH

LẤY QUẺ DỊCH

Tham lang – Đào hoa cư tứ mộ

0
tư vấn mệnh lý, tu vấn tử vi, tử vi

Tham lang

Khi đọc một số sách tử vi Việt ngữ, các bạn thường nghe nói đến sao Đào Hoa đóng ở tứ chính Tí-Ngọ-Mão- Dậu. Sao Đào Hoa đó theo tử vi Trung Hoa gọi là Hàm Trì. Do hóa khí của Tham Lang là Chính Đào Hoa, nên khi Tham Lang đóng ở Thìn-Tuất-Sửu- Mùi được gọi là Đào Hoa Tứ Mộ. Trong chuyên mục này tôi muốn gửi đến các bạn những kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn nghiên cứu của tôi cũng như các bậc tiền bối của môn phái tôi về sao Tham Lang khi đóng ở đất tứ mộ Thìn-Tuất-Sửu-Mùi.

Thìn- Tuất- Sửu-Mùi là nơi giao thoa giữa 4 mùa. Thìn là giao điểm giữa mùa Xuân và Hạ, Mùi là giao thời giữa mùa hạ và mùa thu, Tuất là giao thời giữa mùa thu và mùa đông và Sửu là giao thời giữa mùa đông và mùa xuân. Sở dĩ tôi phân biệt các mùa ở đây để các bạn biết rằng sự khác nhau giữa sao Tham Lang khi tọa ở 4 cung tứ mộ như thế nào.


Tham Lang tọa Thìn cung:

Khi sao Tham Lang tọa thủ tại Thìn cung giữ mệnh, tại Thìn cung thì sao Tham Lang ở thế miếu địa. Lúc bấy giờ Quan Lộc tại Thân cung có sao Thất Sát nhập miếu, Tài Bạch cung ở Tí cung có Phá Quân nhập miếu hình thành nên cách cục Sát-Phá- Lang. Thiên di cung sẽ có Vũ Khúc miếu địa xung chiếu. Về tổng quan, nếu ai có cách cục này là dễ được thành công bất ngờ, nhưng sự thành công không đến sớm hơn độ tuổi 3X (X=2,3,4,5,6) tùy theo hành cục là của đương số là gì. Tại sao cách này là cách tốt? Bởi vì Thìn cung là cung của Thiên La, mà hóa khí Tham Lang là Đào Hoa tinh, nhưng Tham Lang nhập miếu rơi vào cung này thì do sự kìm kẹp của Thiên La, Địa Võng, nên tính trăng hoa, đam mê tửu sắc của Tham Lang bị chế giảm đi rất nhiều, lúc bấy giờ tài khí sẽ phát triển mạnh. Thìn là nơi giao thoa của mùa xuân và hạ, lúc bấy giờ tiết trời có sự dung hòa giữa dư ấm còn phảng phất của mùa xuân và cái nắng dịu dàng bắt đầu đến của tiết trời đầu hạ, Tham Lang thuộc hành Dương Mộc đới Thủy, nên Tham Lang tọa Thìn cung được xem là cách cục tốt. Mệnh tạo là người có khả năng quan sát, nhạy bén với hoàn cảnh, có khả năng trù hoạch, tài khí có thể phát mạnh. Mệnh tạo có tài ngoại giao giỏi, giao tiếp rộng rãi với nhiều thành phần trong xã hội. Nếu là nữ mệnh, thì sự nghiệp có chiều hướng thành công tốt, nhưng tình duyên và tình trường gặp không ít bất trắc, vì vậy khi lựa chọn bến đỗ cho cuộc đời mình cần phải đắn đo, suy nghĩ cẩn thận10 lần trước khi quyết định 1 lần. Ngoài ra, khi sao Tham Lang tọa Thìn cung giữ mệnh, thì sao Thái Dương sẽ ở cung Hợi gọi là “Ngọc Tỉ”, tối hãm, sao Thái Âm đến cung Mão gọi là “Phản Bối”, tức là lúc bấy giờ 2 vầng Nhật, Nguyệt điều quay lưng lại với nhau. Nếu như tại đây Thái Dương, Thái Âm điều không cát hóa (tức Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Khoa) hoặc không gặp Tuần Không, Triệt Không, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỉ thì là điều khá xấu khi xét về mối quan hệ với lục thân và sức khỏe của mình. Cần lưu ý cụm từ “mối quan hệ với lục thân” mà tôi đề cập ở trên, không nên hiểu là người đó chửi Cha mắng mẹ hay hỗn láo với anh chị em, chồng, con mà phải nên hiểu là duyên với người thân trong gia đình không được tốt. Đơn cử như là sức khỏe của cha không tốt, cha mẹ không sống gần nhau, cha mất sớm, anh em tật nguyền hoặc anh em nghèo nàn không nhờ vả được anh em. Ngoài ra, do sao Thái Dương hãm địa giữ cung Tật ách nên dễ bị các chứng bệnh liên quan đến thần kinh như đau đầu, choáng đầu, cận thị, mù màu.. nếu là mệnh nữ thì cần lưu ý đến kinh nguyệt không điều, dễ bị bệnh về máu huyết, bệnh phụ nữ… Tình huống cụ thể như thế nào cần phối chiếu với các sao phụ tinh và trung tinh khác để mà xác quyết.
Nếu như mệnh tạo không gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Hóa Lộc, Lộc Tồn thì về cơ bản vẫn là mệnh tốt, nhưng đương số không nên mạo hiểm kinh doanh, đầu cơ, mà nên học một nghề hoặc trau dồi một kỹ nghệ nào đó để an thân. Vì bản chất của Sát-Phá-Lang là chủ về biến động, nên nhiều khi mệnh tạo thiếu tài khí mà lại cứ biến động thì sẽ dễ làm khổ thân tâm, đặc biệt là khi hội với Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La.
Khi Tham Lang đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh, mà đối cung không có Tuần Không hay Triệt Không xung chiếu. Thì sẽ hình thành cách Vũ Tham Hỏa hoặc Vũ Tham Linh. Bắt đầu trung niên trở đi nếu kinh doanh làm ăn sẽ hoạnh phát, có tiền tài đột biến do đầu cơ hoặc trúng số, cờ bạc. Tức là có cơ hội rất bất ngờ ngoài dự tính mà tạo nên sự nghiệp, sản nghiệp. Tình huống và mức độ phát tài như thế nào cần phối chiếu với các trung tinh và phụ tinh khác như Long Trì, Phượng Các, Thiên Khôi, Thiên Việt để xác quyết cụ thể. Ngoài ra khi xem đến cách cục hoạnh phát tiền tài thì cần phải xem kĩ cung Phúc Đức. Vì Phúc Đức cung chiếu thẳng vào cung Tài Bạch, tổ hợp các trung tinh hay hung tinh tại cung Phúc Đức có ảnh hưởng rất mạnh đến sự thành bại về tiền bạc của mệnh tạo. Cách cục này nếu có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ hay vây chiếu cũng không làm mất đi tính chất bất ngờ đột phá của Tham Linh hay Tham Hỏa, nhưng tiền tài sau khi phát lên sẽ khó giữ được, có nghĩa là dễ bị mất đi, và cách kiếm tiền cũng khá vất vả.
Cũng cách này, nếu sao Tham Lang hội với Thiên Hình,Thiên Không, Hỏa Tinh , Linh Tinh, thì đây là người có tiền nhưng tính cách thanh bạch. Sau trung niên phát lên ngoài sức tưởng tượng, công danh lên như dìu gặp gió. Nhưng nếu Phúc Đức cung mà hội sát tinh Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La hoặc khi đi vào vận gặp nhiều sát tinh như Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La thì sự nghiệp dễ bị gẫy đổ bất ngờ. Do đó, những ai nếu sở hữu được cách này, cần phải xem kĩ cung Phúc Đức hoặc xem các vận hạn mình đi từ sau trung niên để biết được vận và mệnh mình. Nhưng ngược lại, cũng với cách này mà cung mệnh có Triệt hay Tuần Không tọa thủ, thì mặc dù việc phát đạt không thần tốc và bất ngờ như trên, nhưng sự thành công diễn tiến theo con đường chậm mà chắc, không bạo phát bạo tàn như cách trên.

Sự khác biệt cơ bản giữa các mệnh tạo:

Người sinh năm Giáp: Mệnh tạo này ưa thích đeo đuổi cuộc sống hưởng thụ, lòng coi nhẹ sự nghiệp, đôi lúc vì hưởng thụ mà liều mạng làm việc. Dù vậy, do Phúc Đức cung có Hóa Lộc, Tài Bạch cung có Phá Quân hóa Quyền nên người này có vận hoạnh tài, nhưng tiền tài cũng có sự biến động lớn, từ sau 4X sẽ trở nên khá giả. Mệnh tạo này rất thích hợp vận dụng khẩu tài để hái ra tiền, thích hợp đi du học hoặc lập nghiệp ở xa quê. Đối với mệnh nữ thì lại ít vất vả hơn, bắt đầu từ 2X là có sự hanh thông về công việc, tài vận, nhưng đường tình duyên khá vất vả, nên lập gia đình muộn thì sẽ chế giảm hình khắc, dù vậy, tuổi Giáp mệnh nữ có mệnh tạo này, sẽ gặp nhiều vấn đề về sức khỏe và sinh nở, để tang chồng trước 6X (X=2,3,4,5,6). Đối với người tuổi Giáp, do sao Thái Dương Hóa Kị nhập cung Tật ách, nên duyên với cha mỏng, dễ bị các chứng bệnh đau đầu, thị lực kém, huyết áp cao, dễ bệnh tim mạch, trong cuộc đời có ít nhất một lần bịphụ nữ hoặc đàn ông ruồng bỏ mà trở thành thất tình, sầu khổ.
Người tuổi Ất: Duyên với mẹ và Anh em trong gia đình mỏng, anh chị em nghèo, khó nhờ vả được anh chị em đôi khi còn bị anh chị em lừa dối hoặc gây phiền toái cho mệnh tạo. Nhưng mệnh tạo sẽ kế thừa và giữ được truyền thống, tài sản, gia nghiệp của Cha mẹ, tổ tiên. Đối với Nam mệnh tuổi Ất, sau khi lập gia đình thì sẽ bị vợ nắm quyền điều khiển, con cái sau khi thành gia lập thất chúng sẽ giàu lên và có danh tiếng trong giới kinh doanh, thương mại. Đối với mệnh nữ thì lấy được chồng có học vấn, trí tuệ và có sự nghiệp lớn, sau này con cái thành đạt. Mệnh tạo này, cả nam và nữ điều là người có lòng hiếu sắc, đối với người tuổi Ất Mão, Ất Hợi, Ất Mùi thì tính hiếu sắc cao hơn các tuổi khác. Về công danh, tiền bạc, nam mệnh từ sau 2X sẽ có sự thành công trên đường học vấn, từ 3X trở đi sẽ kinh doanh, xoay chuyển đầu cơ mà phát tài, sau 4X cục diện sự nghiệp có sự thay đổi lớn theo chiều hướng tốt. Đây là người vừa có quyền vừa có tiền. Nhưng do Kình Dương đắc địa tọa tại cung Thìn, chém đứt La Võng, khiến tính tham hoa luyến sắc của Tham Lang không còn bị kìm chế, cho nên cuộc đời khó tránh được hình thương, đau khổ, vì sắc mà mang họa. Đối với nam mệnh tuổi Ất Hợi, Ất Mão, Ất Mùi có mệnh cách này thì khi đi vào độ tuổi 4X sẽ có dan díu tình cảm khác phái, vì sắc mà mang họa. Nữ mệnh cùng tuổi gặp cách này, phần tai họa có chiều hướng nhẹ hơn, nhưng từ sau 4X cũng rất dễ phiền toái do chuyện ong bướm chập chờn.
Người tuổi Bính: Nam mệnh, là người thích hưởng thụ, không thích làm việc, tâm thuật bất chính. Sau trung niên kiếm tiền khó nhọc, tiền đến tiền đi khó tích lũy được. Nữ mệnh sau 3X có nhiều thăng trầm, biến động lớn. Cả nam mệnh lẫn nữ mệnh gặp cách này thì hôn nhân giữa chừng gặp tổn thất, rất dễ bị chia ly, nguyên nhân là do không hòa hợp trong hôn nhân. Nhưng bù lại các tuổi này có con cái hiếu thuận, nhờ được con cái. Nếu cung mệnh có Hỏa Tinh, Linh Tinh không gặp Địa Không, Địa Kiếp thì sau trung niên nhờ đầu cơ, làm ăn mạo hiểm bất chính mà có được tiền tài. Nếu có Địa Không, Địa Kiếp gia hội thì sau khi phát tài bất chính sẽ mang họa vì tiền tài.
Người tuổi Đinh: Cả nam mệnh và nữ mệnh điều không có duyên với Cha. Khi chưa lậpgia đình thì thường xuyên bất hòa với Cha mẹ. Anh chị em giàu có và nhờ được anh chị em. Sinh con hiếu thuận và con cái có trí thức, danh vọng. Phúc không trọn vẹn, thường lao tâm khổ tứ về tiền bạc, cả nam lẫn nữ mệnh điều gặp phải người bạn đời không trung thành, bị người bạn đời phản bội mà sầu khổ. Sau trung niên có phần phấn phát, nhưng cũng vì tiền tài và tình cảm mà sầu khổ. Nữ mệnh từ 2X-3X gặp nhiều khó khăn trắc trở, sau 3X công việc tiền bạc có phần phát lên, nhưng vẫn thường bị tai nạn về chồng con, có thể vì sắc mà mang họa. Nam mệnh có mệnh cách này cuộc đời có phần thuận lợi hơn nhưng vẫn chủ hôn nhân không thuận. Có học thức, tri thức, có khoa bảng, sau 3X tiền bạc hoạnh phát. Nếu có Linh, Hỏa gia hội không gặp Không, Kiếp thì phát tài mạnh, nhưng do phúc không trọn vẹn, nên cũng vì tiền mà gặp nhiều mất mát trong đời.
Người tuổi Mậu: Nam mệnh là người thông minh, lanh lẹ, có tài ngoại giao, khéo xử lý và thu xếp các việc, nhân duyên với phái nữ tốt, có phúc được hưởng lộc, gia đình bên ngoại thịnh vượng, có duyên với bên ngoại, kém duyên với bên nội, tuổi thọ cao.. Trong độ tuổi 2X-3X dễ bị tai nạn, hình thương. Tài vận từ sau 3X khá thịnh vượng. Nữ mệnh thì từ đại vận 3X trở đi gặp nhiều trắc trở trong công việc làm ăn, dễ lầm đường lạc lối, có thể làm chuyện bất chính.
Người tuổi Kỷ: Thích hợp kinh doanh, buôn bán, lập nghiệp xa quê hương, thành tựu nơi xứ người. Do cung Phúc Đức bấy giờ có cách Hình Kị Giáp Ấn nên mặc dù có tiền nhưng lại hay khổ vì tiền, dễ bị tai nạn về tiền, có chức vị và thành công trong xã hội. Ra ngoài xã hội luôn có quý nhân tương trợ, có khả năng diễn thuyết, ngoại giao tốt, rất thích quyền lực và sắc giới. Âm nam tốt hơn Âm nữ, ngoại trừ tuổi Kỷ Mão, các tuổi nữ khác có mệnh cách này phần lớn là không còn con gái khi về nhà chồng, không còn con gái trước 2X và đến đại vận 3X-4X dễ bị tai nạn do tình cảm gây ra. Đối với các tuổi Kỷ Dậu, Kỷ Tỵ và Kỷ Sửu, hôn nhân dễ bị giữa đường tổn thất.Ví dụ như chồng đi lấy vợ bé, thất vọng buồn khổ mà tìm đường đến cái chết, nhưng cuối cùng được người nhà đưa vào bệnh viện Trợ Rẫy cứu chữa lại không chết. Hoặc thấy chồng mình đã ăn “chả”, nên buồn quá cũng đi ăn “nem” cho bỏ tức, và khi Bà ăn “nem” thì Bà lại bị người tặng “nem” lừa thêm một lần nữa nên đau khổ chồng thêm đau khổ. Nhìn chung, đối với người tuổi Kỷ trong đại vận 3X-4X gặp Thiên Lương, Kình Dương nên thường bị tai nạn, tình huống cụ thể cần phải xét đó là nạp âm mệnh gì, các trung tinh, phụ tinh, sát tinh hội tụ cung Phúc Đức, cung Mệnh và cung Điền Trạch để dự báo. Riêng tuổi Kỷ Mão đến đại vận này thì do những ưu phiền đè lên bản thân, nên thường tìm đường đến đạo giáo, tâm linh.
Người tuổi Canh: Mệnh tạo có tinh thần phấn đấu lớn, người luôn bận rộn, không chấp nhận ngồi yên một chỗ. Bản thân thường hay bôn ba, là người có nhiều tài nghệ và tài năng được quần chúng thừa nhận. Ra bên ngoài luôn được quý nhân giúp đỡ, bản thân thường có cơ hội lớn. Cả nam lẫn nữ điều không có duyên với bên ngoại, không hợp với mẹ, con gái. Anh em trong nhà thường hay bất hòa, cãi nhau. Nữ mệnh, từ 2X-3X là có sự hanh thông về tiền bạc, giai đoạn 3X-4X gặp nhiều biến động, không tốt, từ sau 4X sẽ có sự hanh thông, về hậu vận hưởng phúc, sau 6X sống cô độc. Nam mệnh thì từ 3X-4X có thể dan díu thêm nợ phong lưu. Từ sau 5X sẽ rất tốt, càng về hậu vận càng đạt Phúc Lộc trọn vẹn.
Trên đây chỉ là một tóm tắt các ý cơ bản của Tham Lang ở Thìn, nếu viết chi tiết và đầy đủ thì phải mất ít nhất 70 trang A4 mới đầy đủ được ý nghĩa của các mệnh tạo nam nữ khác nhau mà có sao Tham Lang cư Thìn. Do không có nhiều thời gian nên với phần tóm gọn trên tôi hy vọng các bạn đam mê nghiên cứu tử vi có cái nhìn toàn diện hơn về Tham Lang cư Thìn. Hẹn gặp lại các bạn ở kỳ sau trong phần ĐÀO HÓA TỨ MỘ-Tham Lang tọa Tuất cung.



Tham Lang tọa Tuất cung.

Khi sao Tham Lang độc tọa tại Tuất cung giữ mệnh, thì Tài Bạch cung tại Ngọ có Phá Quân nhập miếu, Quan Lộc cung tại Dần có Thất Sát nhập miếu, đối cung có Vũ Khúc nhập miếu. Kết cấu tinh hệ SÁT-PHÁ- LANG điều nhập miếu giống như khi Tham Lang ở Thìn cung. Tuy nhiên, cục diện lại thay đổi hoàn toàn. Vì sao? Bởi vì lúc bấy giờ Thái Dương sẽ đi đến cung Tỵ độc tọa ở thế vượng địa, tại Tỵ cung sao Thái Dương được gọi là “U Trưng” có cường độ ánh sáng chỉ kém Li cung nhưng lại hơn ánh sáng ở 10 cung khác. Sao Thái Âm lúc bấy giờ sẽ đi đến cung Dậu, tại Dậu cung sao Thái Âm độc tọa thế vượng, còn được gọi là “Thiên Tường”, đây là thời điểm lúc mặt trăng vừa nhô lên. Lúc bấy giờ cung Điền Trạch tại Sửu có Thiên Lương ở thế vượng địa, nhận được ánh sáng của Nhật Nguyệt hợp chiếu nên tạo thành cảnh khá đẹp.
Về tổng quan, những ai có kết cấu Tham Lang cư Tuất cung cũng điều bất ngờ chuyển vận từ sau độ tuổi trung niên. Về cơ bản, mệnh tạo có mối quan hệ khá tốt với lục thân. Nhưng đối với người sinh những năm Bính, Tân và những người sinh trong tuần Giáp Ngọ thì mối quan hệ với Cha, chồng, con trai hoặc bên nội không được thuận lợi. Người sinh vào những năm Giáp, Kỷ và trong tuần Giáp Tuất thì mối quan hệ với mẹ, với con gái, với bên ngoại không được thuận lợi. Trường hợp cụ thể có thể là khi đương số sinh ra đến khi trưởng thành không biết được người thân bên ngoại; mẹ sức khỏe yếu, chết sớm hoặc không sống gần mẹ, sinh con gái thì con ngang bướng hoặc khó nuôi…, tùy theo mức độ hội tụ của các trung tinh, hung tinh để xác quyết cụ thể đối với từng lá số khác nhau.
Về phương diện sức khỏe, lúc bấy giờ cung Tật Ách sẽ có sao Thái Dương vượng địa. Sao Thái Dương có ngũ hành thuộc Dương Hỏa, nếu hội tụ Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Đà La, Kình Dương thì rất dễ bị các bệnh liên quan như cao huyết áp, bệnh tim, thị lực kém, có tật ở mắt, đau đầu…
Về công danh, tài lộc: Mệnh Tham Lang tại Tuất sẽ cát lợi hơn rất nhiều so với Tham Lang tại Thìn. Điều đầu tiên phải kể đến trong sự cát lợi này là vai trò của bộ Âm Dương ở thế vượng địa. Vì đây là bộ sao ngoài ý nghĩa Phú (Thái Âm) và Quý (Thái Dương), thì đây là bộ sao còn thể hiện đương số có được hậu thuẫn hay không được hậu thuẫn từ Cha, mẹ, bên nội, bên ngoại đối với mệnh tạo. Khi Tham Lang cư Tuất thì cung Phúc Đức tại Tí sẽ có Liêm Trinh, Thiên Tướng đồng độ. Kết cấu Thiên Tướng ở bất cứ cung nào cũng thường xảy ra cách cục Hình Kị Giáp Ấn hoặc Tài Ấm Giáp Ấn. Do sao Thiên Lương giáp cung Thiên Tướng Liêm Trinh tại Tí, do Thiên Lương nhận được ánh sáng từ Thái Dương, Thái Âm quân bình vượng địa hợp chiếu, nên bản thân Thiên Lương rất khó hóa khí thành hình khi đồng độ cùng Kình Dương (nếu âm dương hãm địa thì khả năng hóa khí thành Hình xảy ra rất cao). Chỉ có người tuổi Đinh sinh tháng 5 âm lịch thì Thiên Hình sẽ đồng độ với Thiên Lương và Cự Môn hóa Kị tại cung Hợi mới có cách Hình Kị Giáp Ấn. Người tuổi Quý thì Lộc Tồn đóng Tí cung, Liêm Tướng sẽ giáp Kình Đà nhưng Thiên Lương không hóa khí thành hình, do đó cách cục Hình Kị Giáp Ấn đối với người tuổi Quý có mệnh Tham Lang cư Tuất cung không xảy ra.
Ngoại trừ những bậc thiên tài hay kỳ nhân xuất chúng chiếm một số rất ít, phần lớn những người bình thường còn lại muốn có sự thành tựu hay đạt được một nấc thang nào đó trong đời sống xã hội, tất nhiên trước tiên phải cần đến sự hậu thuẫn từ cha mẹ (nuôi nấng, giáo dục, giúp đỡ về tinh thần, vật chất…) và sự hậu thuẫn, giúp đỡ tương tự từ Cậu, Dì, Chú, Bác bên nội và bên ngoại. Ví dụ đơn cử, nếu đương số được may mắn học và tốt nghiệp đại học, khi ra trường, nếu như Cha mẹ đương số nghèo nàn, ở quê lam lũ làm ăn, dòng họ hai bên nội và ngoại cũng cùng chung số phận là một nắng hai sương hoặc tệ hơn là không có người thân bên nội, ngoại. Như vậy đương số sẽ phải tự thân vác đơn đi xin việc nơi này, nơi kia, cuối cùng vẫn xin được việc làm nhưng phải trải qua thời gian thất nghiệp. So với người khác, có gia đình bên nội, ngoại thịnh vượng hoặc cha mẹ quyền chức, thì đương số không phải lâm vào hoàn cảnh như thế, mà chỉ trong vòng 1 đến 2 ngày sau khi tốt nghiệp là được vào làm ở một cơ quan có tiềm lực với mức lương cao hơn một số bạn đồng khóa. Sự sáng hay tối hãm của bộ Âm Dương trên lá số có vai trò rất quan trọng trong việc dự báo mối quan hệ với Cha/Mẹ, dòng họ nội ngoại. Đối với người sau khi lập gia đình, thì sự sáng tối của Nhật Nguyệt trên lá số sẽ cho thấy người đó quan hệ với chồng, vợ, con trai, con gái thuận hay bất thuận. Mà mái gia đìnhchính là điểm tựa quan trọng cho mọi sự thành công của cá nhân. Chính vì thế, sao Tham Lang tại Tuất tốt hơn ở Thìn là dựa vào bộ Âm Dương được quân bình. Khi bộ Âm Dương được quân bình thì kéo theo mối quan hệ với Cha mẹ tốt (sao Cự Môn tại Hợi là vượng địa, bản chất là ám tinh, nhờ ánh sáng của Thái Dương vượng địa chiếu rọi, trừ tuổi Đinh Cự Môn hóa Kị là kém).
Đời sống vợ chồng về cơ bản là tốt. Tại sao? Vì lúc bấy giờ cung Phu Thê ở Thân có tử vi, Thiên Phủ đồng cung. Kết cấu tử vi, Thiên Phủ ở Dần Thân cũng chứa nhiều khuyết điểm, điều này tôi sẽ trình bày trong một chuyên đề khác. Khi sao tử vi đến cung Phu Thê thì sẽ rất bất lợi cho hôn nhân (đối với nam mệnh), vì tử vi có tính cương cường, nghĩa là nam mệnh sau khi lấy vợ sẽ bị vợ điều khiển, mình chỉ còn là cái bóng sau lưng vợ. Điều này chúng ta thường thấy mà có thể dùng câu nói ví von ở không ít người đàn ông nói với vợ mình bằng một giọng cáu gắt “ Sao làm vợ mầy không muốn mà mầy muốn làm mẹ hả?”, do đó, nữ mệnh có sao tử vi ở cung Phu thê thì đẹp hơn nam mệnh. Khi Tham Lang tọa Tuất cung, Phu thê cung sẽ có tử vi, Thiên Phủ cùng đến thì sao? Nam mệnh có hành nạp âm là Mộc và Thủy mà có cung Phu Thê này thì khó mà có một vợ. Các mệnh tạo còn lại có cung phu thê này chỉ cần không thấy hung, sát tinh như Đà La, Địa Không, Địa Kiếp thì nam cũng như nữ mệnh: Một lần là trăm năm.
Về cơ bản, mệnh tạo có Tham Lang cư Tuất là có sự hậu thuẫn. Còn tài lộc như thế nào? Khi Tham Lang tọa Tuất cung, nếu được tam kỳ gia hội (Khoa, Quyền, Lộc) thì sự thành công về công danh và tiền bạc là điều chắc chắn, vấn đề này xét nghĩ không cần phải bàn thêm.
Khi Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, cung Thiên Di không gặp Tuần Không, Triệt Không, Thiên Không thì cách cục Vũ Tham Hỏa hoặc Vũ Tham Linh được thành lập. Cách cục này là nhờ vào kinh doanh mà phát tài, nhưng về cơ bản vận chỉ chuyển đổi từ 3X trở đi.
Khi Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, mà Thiên Di cung gặp Triệt Không, Tuần Không, Thiên Không thì cách cục Tham Hỏa hoặc Tham Linh được xác lập. Cách cục này chủ có cơ hội bất ngờ, đột ngột mà phát tài, như phát tài nhờ đầu cơ, tích trữ, trúng số, cờ bạc… Tất cả 2 trường hợp trên điều lấy Tham Lang đồng cung với Hỏa, Linh làm yếu tố chính, còn tam hợp chiếu là yếu tố thứ. Vì khi Hỏa hay Linh không nằm cùng Tham Lang, thì mức độ bất ngờ, đột ngột bị giảm xuống nhiều. Trong trường hợp Tham Lang không đồng cung cùng Hỏa Tinh, Linh Tinh, hoặc trong hợp chiếu, xung chiếu không có Linh, Hỏa, mà khi đi đến vận gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì đương số cũng sẽ phát tài lên mạnh và bất ngờ, nhưng khi đi qua vận đó thì tài vận do Linh Hỏa tạo ra không phát nữa, lúc bấy giờ cần phải xem đương số có đi đến vận có Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên Phủ, Thái Âm, Thiên Khôi, Thiên Việt hay không.
Về nghề nghiệp, khi Tham Lang tọa Thìn hay Tuất cung, nếu không thấy sát diệu mà thấy Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, đồng thời bản thân sao Tham Lang hóa khí thành Lộc (tuổi Mậu) là rất thích hợp làm chính trị, nếu như Tham Lang hóa khí thành Quyền (tuổi Kỷ) thì rất thích hợp làm trong quân đội, cảnh sát, tòa án. Còn cách Vũ Tham Hỏa hay Vũ Tham Linh thì kinh doanh sẽ phát tài. Khi xem xét mệnh tạo có Tham Lang nhập miếu ở Thìn hay Tuất, người xem số cần quan tâm đến 6 sao Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Hư, Âm Sát, Kình Dương, Đà La. Nếu Tham Lang gặp 2 sao Văn Xương, Văn Khúc thì mệnh tạo rất dễ có tính phong lưu, đa tình, và tính cách thường không an định, sốc nổi. Trong trường hợp này nếu có kèm theo Âm Sát và Thiên Hư nữa rất dễ làm cho mệnh tạo trở thành con người có tâm thuật bất chính, ngoài thì thế này nhưng trong lòng nghĩ khác, lợi dụng người hoặc dùng các thủ đoạn để trục lợi. Mệnh tạo loại này làm việc cũng không được hiệu quả, có kế hoạch nhưng thiếu thực tiễn, thiếu chí phấn đấu để đạt kế hoạch, chính vì vậy thích đi theo đường ngắn gọn để đạt mục đích, từ đó dễ lâm vào tà đạo. Nếu là Văn Xương hóa khí thành Kị hoặc Văn Khúc hóa khí thành Kị thì tình trạng sẽ tệ hơn, người xảo trá, dụng khẩu tài để lừa đảo người khác.
Khi Tham Lang tại Thìn hay Tuất, mà gặp Kình Dương hay Đà La đồng độ, nếu cùng cung không có Tuần Không, Triệt Không, Thiên Không, Thiên Hình thì tính trăng hoa, mê hoa luyến sắc khá cao, trong trường hợp này nếu gia hội thêm Hàm Trì, Mộc Dục, Hồng Loan, Thiên Hỉ, Thiên Dao thì mệnh tạo cũng rất dễ vì sắc, cờ bạc mà mang họa. Mệnh người có Tham Lang tại Thìn Tuất, cần lưu ý đại hạn hoặc lưu niên mình đi có gặp Đà La, Kình Dương hay không, nếu có thì cần phải thận trọng các mối quan hệ, đặc biệt là quan hệ khác giới, đồng thời cẩn thận các việc làm ăn mang tính rủi ro cao như cờ bạc, đầu tư chứng khoán, cá độ bóng đá, đua xe, đua ngựa… rất dễ phá tài, bại nghiệp.
Do Sát-Phá- Lang là nhóm sao biến động kịch liệt. Vì vậy, khi lưu niên đại hạn, đại hạn hay tiểu hạn đến gặp Tham Lang thì đương số sẽ có sự thay cũ đổi mới. Nếu Tham Lang đồng cung hoặc có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Khôi, Thiên Việt, Địa Không, Địa Kiếp, Tả Phù, Hữu Bật thì chủ về thay đổi theo hướng sáng lập cơ nghiệp. Trường hợp Tham Lang Hóa Lộc, nếu có thêm Hàm Trì, Hồng Loan, Thiên Dao, Mộc Dục thì sự thay đổi chủ yếu là vui chơi, được nhiều người mời đi ăn tiệc tùng, giao du bạn bè, thù tạc liên tục. Trường hợp thấy Hóa Lộc, Lộc Tồn mà có thêm Thiên mã, thì tài lộc sẽ gia tăng mạnh. Nếu cung hạn có Tham Lang hội Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa, Hồng Loan, Thiên Hỉ thì chủ về kết hôn, gia đạo có thêm người.

Tham Vũ tọa Sửu cung

Khi Tham Lang và Vũ Khúc đồng cung với nhau, mệnh lý học gọi cách này là Tham Vũ Đồng Hành cách. Cách này chỉ xảy ra ở 2 cung Sửu và Mùi.
Khi sao Tham Lang nhập miếu tọa tại Sửu cung, sẽ có Vũ Khúc đồng hành. Lúc bấy giờ cung Tài Bạch tại Dậu sẽ có Liêm Trinh-Phá Quân, tại Dậu cung, Liêm Trinh sẽ ở thế bình hòa, Phá Quân rơi vào thế hãm. Cung Quan Lộc tọa tại Tỵ cung sẽ có sao tử vi ở thế vượng và Thất Sát ở thế bình hòa đồng tọa. Lúc bấy giờ cục diện trên tinh bàn sẽ không còn cảnh thanh bình. Đế quân phải đi chinh chiến. Thiên Phủ bấy giờ sẽ nằm chơ vơ tại Hợi cung, ngước nhìn lên tử vi và Thất Sát đi chinh chiến. Sao Thái Dương lúc bấy giờ sẽ vượng địa nhập cung Dần đồng độ cùng Cự Môn , sao Thái Âm sẽ miếu địa đồng cung cùng Thiên Đồng tại Tí. Như vậy, mệnh an tại Sửu cung sẽ được giáp Nhật-Nguyệt rực rỡ.
Như vậy, cách cục của Tham Lang lúc bấy giờ thế nào đây? Tính hào sảng, phóng khoáng, ham mê cờ bạc, vì tình vì sắc mà mang họa của sao này còn không. Xin thưa với chư vị rằng, sao Tham Lang lúc bấy giờ đã biến ra thành một bộ mặt gần như hoàn toàn khác? Tại sao vậy?
Vũ Khúc là Tài Bạch tinh, trong âm dương ngũ hành thuộc Âm Kim. Là sao tài tinh rất tiêu chuẩn, lấy hành động xông pha kiếm tiền làm kim chỉ nam. Vũ Khúc còn là sao võ tướng, nên Tham Lang ở đây bị khống chế mạnh. Tham Lang đồng cung với Vũ Khúc, hành Mộc của Tham Lang bị thế Kim rất mạnh của Vũ Khúc tại Sửu (Sửu cung thuộc Thổ, sinh cho hành kim của Vũ Khúc) khống chế, sự hào hoa, phong nhã, phóng khoáng, phong lưu của Tham Lang bây giờ chỉ còn là vẻ bề ngoài, thực chất bên trong là một sự toan tính làm ăn, kiếm tiền không ngừng nghỉ. Do đó, mệnh tạo tại đây về cơ bản là người rất giỏi tính toán, tâm tình khá cứng cõi, là người có thực tài. Không chịu sự ràng buột, khống chế của thế lực ngoại nhân, giỏi sáng tạo, luôn tự kiểm tra hành vi và hành động bản thân để trả lời câu hỏi tại sao mình không đạt được thành công. Chính tố chất này, đã giúp đỡ không ít cho người Tham Vũ có sự thành công lớn về hậu vận. Tuy nhiên, đối với kết cấu này, thì phải sau trung niên mới phát lên, tức là ngoài độ tuổi 3X (X=2,3,4,5,6). Chính vì vậy, trong tử vi mệnh lý có câu phú khá nổi tiếng “ Tham Vũ mộ trung tàng, tam thập tài phát phú”. Tại sao có câu phú trên? Trong khi Vũ Khúc và Tham Lang đồng cung mệnh tạo luôn có sự tính toán cẩn thận, lòng khát khao kiếm tiền mãnh liệt mà phải chờ đến sau trung niên mới chuyển vận. Tân Kim của Vũ Khúc đi đến đất Sửu là Dưỡng, trong khi Giáp Mộc của Tham Lang đi đến Sửu là đất Quan Đới. Xét về ngũ hành thì Kim mới hình thành trong đất, nên sức chưa đủ mạnh để khống chế hoàn toàn tính dương Mộc của Tham Lang. Vì vậy, cần phải thời gian đi qua, để thế Kim mạnh lên, và thế Mộc yếu đi, để Kim có thể thuần phục được Mộc, Mộc được Kim thuần trở nên vật hữu dụng, và hành động kiếm tiền lúc bấy giờ mới bắt đầu phát huy tác dụng. Về tính chất, thì Vũ Khúc có tính uy nghi nhưng cứng rắn, Tham Lang đa tài đa nghệ nhưng nông nổi. Sự quá cứng rắn hay nông nổi của tuổi trẻ, khiến cho con người mặc dù có tài nhưng không có lực hoặc không đủ kinh nghiệm để kiểm soát hành động bản thân. Cần phải trải qua thời gian rèn luyện, để biến cái cứng rắn kia trở thành linh hoạt, uyển chuyển, cái nông nổi kia trở thành chững chạc, như thế mới có thể dụng được tố chất tốt của tổ hợp 2 sao. Một yếu tố khác rất quan trọng nữa, đó là 2 vầng Nhật-Nguyệt. Khi xem xét Nhật Nguyệt, điều quan trọng là chiếu và giáp, thủ chỉ là hàng thứ. Mệnh cách có Nhật Nguyệt giáp cung, tất sẽ ảnh hưởng rất mạnh từ kết cấu Nhật Nguyệt, không nên xem thường. Về lý tính, ánh trăng càng về khuya càng sáng, mặt trời càng về trưa càng phát ra sức nóng. Do đó, Nhật Nguyệt chiếu hay giáp mệnh hoặc thủ mệnh, tất cả điều phát huy mạnh tác dụng khi con người đi vào tuổi lập nghiệp, tức là bước vào tuổi trung niên. Kết hợp 2 yếu tố trên, nên phần lớn những người có Tham- Vũ đồng hành là những người ly hương lập nghiệp, tiên thiên có nhiều nỗ lực nhưng lại gặp trắc trở không thuận lợi, sau trung niên và hậu thiên trở đi vận khí khá tốt, tiền bạc sung túc, nếu mệnh hội đa trung và cát tinh là người có sự nghiệp lớn nơi tha hương.
Đối với những người sinh năm Thìn-Tuất-Sửu-Mùi mà có mệnh cung Vũ-Tham tại Sửu, thì có sự ứng hợp lớn. Nếu hội đa trung tinh và cát tinh, thì sự nghiệp của những người này không phải bình thường.
Khi Tham-Vũ đồng hành, thì Liêm-Phá ở Tài, Tử- Sát ở Quan Lộc. Nên mệnh cách này không sợ gian nan, dám đương đầu với những cạnh tranh khốc liệt, tiêu tiền như nước, tuổi trẻ nhiều gian lao, về hậu vận rất hanh thông, danh lợi song thu. Do mệnh có Tham Lang, tam phương có Thất Sát, Phá Quân, nên đây là mệnh cách biến động kịch liệt. Mỗi một lần thay đổi, biến động, là một lần tạo nên một bước ngoặc của cuộc đời.
Trường hợp Vũ Tham hội Hỏa, Linh thì đây là cách cục không thể xem thường. Mệnh cách này sau 3X thường có cơ hội đột phá lớn, cơ hội bất ngờ đến, một lần mà tạo nên sự nghiệp. Lưu ý rằng, nếu Vũ Tham Hỏa hay Vũ Tham Linh mà có Hóa Lộc đồng cung, chắc chắn sau 3X tuổi sẽ có một số tiền lớn bất ngờ đến với mình. Nếu mệnh có Tham Vũ Linh hoặc Tham Vũ Hỏa hay Tham Vũ Lộc mà ngộ Tuần Không, Triệt Không, thì đối với người tuổi dương can mức độ phát tài sẽ yếu và đến chậm hơn người tuổi âm can. Và cả 2 trường hợp này cũng không thể giàu sang bằng không có Tuần Không hay Triệt Không tọa thủ. Nhưng đối với mệnh Vũ Tham Hỏa hay Linh mà ngộ Tuần Không, thì khi họ giàu sang lên, hoặc phát tài lớn như trúng số, hoạnh tài người ngoài sẽ không thấy được, tức là đây là mệnh cách giàu ngầm. Còn trường hợp ngộ Triệt Không thì sự giàu sang của họ dễ bị người khác nhận diện ra. Tuy nhiên, khi xem số có mệnh Tham –Vũ –Linh, giới nghiên cứu cần phải soát xét kĩ xem sao Đà La và Văn Xương nằm ở đâu. Nếu đồng cung, hay tam hợp hay xung chiếu rất dễ hình thành nên cách cục cực độc đó là Linh-Xương-Đà- Vũ, đây là cách cục do sự thất bại, buồn khổ, cùng đường mà tìm đến cái chết. Nếu rơi vào cách cục này, mà gặp Triệt Không, hay Tuần Không ở mệnh thì không đáng lo ngại, chỉ là sự thất bại thôi chứ không dẫn đến đường cùng.
Mệnh cách này, nếu đồng độ với Đà La (tuổi Giáp) hay Kình Dương (tuổi Quý) sẽ rất dễ bị mang họa về sắc giới, dễ vì sắc mà bị lừa tiền hoặc vì sắc mà tự nguyện đưa tiền. Khi xem kết cấu này, cần phải lưu ý đến sao Hóa Kị. Nếu bản thân Vũ Khúc hóa Kị (tuổi Nhâm) sẽ không có lợi cho tài khí của Vũ Khúc, sự nghiệp rất dễ bị thất bại, không nên làm ăn kinh tế, thương mại, nên làm công ăn lương hoặc làm các nghề trong quân đội, cảnh sát hoặc làm nghề tình báo, gián điệp cũng có sự thành tựu không nhỏ. Ngoài ra, theo Sư Bá Lục Bân Triệu, thì khi Vũ Khúc hóa Kị ở cung mệnh thường chủ về tuổi thọ ngắn yểu. Điều này bản thân tôi chưa có kiểm nghiệm và thầy tôi, 2 vị sư thúc của tôi cũng chưa hay là không có phát hiện ra. Do chưa được kiểm nghiệm nên chỉ đưa vào nội dung phân tích này để các bạn tham khảo. Nhưng các bạn lưu ý, Vũ Khúc hóa Kị chỉ đối với người tuổi Nhâm, còn tuổi Quý thì Tham Lang hóa Kị có Vũ Khúc đồng cung, ý nghĩa của 2 hóa khí này hoàn toàn khác nhau.
Mệnh Vũ Khúc-Tham Lang cũng không có lợi đối với phụ nữ khi xét về hôn nhân. Bởi vì, Vũ Khúc là sao võ, tính cương khắc lớn, Tham Lang lại là sao Đào Hoa, nên nữ mệnh có tổ hợp này thường bất lợi trong tình duyên và hôn nhân. Tuy vậy, khi Vũ Tham giữ mệnh, thì phu thê cung tất có sao Thiên Phủ ở Hợi cung. Bản chất của Thiên Phủ là ổn trọng và bảo thủ, bản chất của Tham Lang là mạo hiểm và tham vọng, bản chất của Vũ Khúc là tính cương. Chính vì vậy mệnh nữ có Vũ Khúc-Tham Lang tất sẽ không thích hợp với chồng mình khi xét về tính cách. Tuy nhiên, chồng sẽ là người có trách nhiệm, biết chăm sóc gia đình. Bản chất của Thiên Phủ là sao tài khố, mang tính cất giữ, đứng đơn thủ chỉ có ý nghĩa là dư dật, đủ ăn, nhưng nếu hội với Lộc Tồn, Hóa Lộc thì chồng có thể khá giả về kinh tế. Như vậy, tổ hợp Vũ-Tham ở Sửu đối mệnh nữ với tuổi nào là bất lợi trong hôn nhân nhiều nhất: Đó là 6 tuổi: Giáp Dần, Giáp Thìn, Quý Mão, Quý Hợi, Nhâm Dần, Nhâm Thìn, trong đó, tuổi Quý Mão và Quý Hợi là bất lợi hôn nhânnặng nhất. Bởi vì các tuổi trên điều có sao Cô Thần, Quả Tú trong mệnh. Mà Vũ Khúc bản thân nó đã là sao cô khắc, khi hội với Cô Thần, Quả Tú thì tính cô khắc tăng lên rất nhiều lần. Sự cô khắc này không phải không có ai yêu, mà là có nhiều người yêu nhưng cứ trắc trở, đổ vỡ liên tục, khó đến được với nhau, sau khi lập gia đình thì nhiều chuyện xảy khiến phải ly hôn hay sinh ly tử biệt. Ngoài ra, do sự phân tích trên, tuổi Giáp thì Đà La đồng độ với Tham Lang, tuổi Quý thì Kình Dương đồng độ với Tham Lang đồng thời Tham Lang hóa Kị, tuổi Nhâm thì bản thân Vũ Khúc hóa kị. Nếu những tuổi này có cách Tham Vũ thì sẽ rất vô cùng bất lợi cho hôn nhân. Nếu muốn kiểm nghiệm học thuyết của môn phái tôi, các bạn nghiên cứu tử vi có thể đi tìm 10 lá số của các mệnh nữ Quý Hợi, Quý Mão có cách Tham Vũ ở Sửu, bạn sẽ thấy rằng những phân tích trên không sai chút nào.
Về cách Vũ Tham tại Sửu, đối với những người tuổi Quý Tỵ,Quý Dậu và Quý Sửu là những người có tính tham vặt, tính cách không tốt, bất chấp thủ đoạn, đây là những người có dục vọng sâu nặng, nhân cách không được tốt. Tại sao vậy? Bởi vì tuổi Quý tất có Lộc Tồn tại Tí, Kình Dương sẽ đồng độ với Vũ Khúc- Tham Lang, Tham Lang hóa khí thành Kị nên tổ hợp các sao này ở mệnh cung hình thành nên các tính cách rất không tốt. Sư Bá Lục Bân Triệu đưa ra 3 tuổi Tỵ-Dậu-Sửu có mệnh an tại Sửu là tính cách không tốt, nhân cách bất chính. Nhưng theo tuyệt kỹ của chúng tôi, chỉ có 3 tuổi Quý Tỵ- Quý Dậu- Quý Sửu có mệnh cung an tại Sửu là có nhiều khuyết điểm nhất, các tuổi Tỵ-Dậu-Sửu còn lại điều cũng có tính tham vặt và dục vọng nặng, nhưng tính cách cũng không đến nổi quá tệ. Tại sao chúng tôi không đồng ý hoàn toàn với lập luận của Lục Bân Triệu, nguyên nhân bởi vì đối với tuổi Tỵ-Dậu-Sửu thì tại Sửu cung có Hoa Cái, Tài cung có Tướng Tinh, cung Tỵ có Chỉ Bối. Khi mệnh an tại Sửu cung đối với người tuổi Tỵ-Dậu-Sửu thì sẽ nằm trong tam hợp Tướng Tinh-Hoa Cái- Chỉ Bối. Nếu người tuổi Tỵ-Dậu-Sửu mà có thân cư Quan Lộc hay thân cư Tài Bạch thì là người có tài năng, nhưng tiền bạc dễ bị phá tán mạnh, không tụ tài, còn bị người khác dèm pha, ghen ghét về tài học, công việc, nhưng bản chất của họ chưa chắc đã xấu, vì mệnh họ do những nghịch cảnh cuộc sống đưa tới khiến cho tính chất Hoa Cái phát huy mạnh, lúc bấy giò họ thường mang tư tưởng u uất, trầm uất, muốn xuất thế, trốn tránh hiện thực, nếu sinh vào tháng 5 âm lịch thì càng có tư tưởng xuất thế, vì lúc bấy giờ Tham Lang sẽ đồng cung cùng Thiên Hình, Hoa Cái, trừ tuổi Quý (Tỵ- Dậu- Sửu) như đã phân tích ở trên.
Tuổi Giáp: Nam mệnh cũng như nữ mệnh là người danh lợi song thu, sức khỏe khá tốt. Mệnh cách có tài khí mạnh, sau 3X vừa có danh vừa có lợi. Nếu hội thêm Linh tinh ở cung mệnh thì chủ về có cơ hội hoạnh phát, không bất ngờ nhưng từng bước đi lên nhưng tuổi trẻ chịu nhiều gian khổ. Trường hợp thấy Linh Tinh ở cung mệnh là tốt nhất, nếu là Hỏa tinh thì phá cách, không tốt. Mệnh này lấy hành động kiếm tiền của Liêm Trinh làm chủ yếu, tức là phải trải qua gian lao vất vả, khi chuyển vận thì tài khí cực kỳ hanh thông. Có cơ hội đột phá mà làm nên sự nghiệp. Tuy nhiên, mệnh cách này nếu đã có Linh Tinh tất không nên gặp Văn Xương trong mệnh hay tam hợp, xung chiếu. Nếu không sẽ hình thành nên cách cục Linh Xương Đà Vũ là cách đau khổ, thất bại, bần hàn đến đường cùng phải tìm đến cái chết, tuổi Giáp Dần thì không lo sợ cách này. Mệnh tạo này lấy được vợ đôn hậu, tính cách ổn trọng, bảo thủ, nhưng giữa bản thân mình và vợ không hợp tính nhau. Do Đà La nằm sẵng ở cung mệnh, nếu mệnh tạo hội thêm Thiên Dao, Mộc Dục, Hàm Trì, Hồng Loan, Thiên Hỉ, tất nhiên sau khi có tiền thì máu hiếu sắc, tham “của lạ” ,“chán cơm, thèm phở” sẽ nổi lên, nên cũng chủ vì sắc mà mang họa cho bản thân, chủ là họa về gia can bất ổn, người tuổi Giáp Dần gặp cách này tuy cóngoại tình nhưng vợ không phát hiện được. Trường hợp mệnh cung gia hội thêm Địa Không, Địa Kiếp thì phúc không trọn vẹn, có tiền nhưng sau đó sẽ phá tán hết. Mệnh nữ đối với tuổi Giáp Dần, Giáp Thìn thì mức độ hình khắc hôn nhân rất lớn, dễ có nhiều lần dang dở hôn nhân. Cũng lưu ý rằng, nếu người tuổi Giáp mà sinh giờ Dậu thì tuổi trẻ được sung sướng, hưởng thụ nhưng qua trung niên không thể phát được.
Tuổi Ất: Duyên với anh em bạc, dễ bị cận thị trước 2X tuổi. Tài vận từ sau 3X là phát rất mạnh, từ sau 3X vừa có tiền vừa có quyền. Nếu đồng độ với Hỏa, Linh thì có cơ hội bất ngờ mà được tiền tài. Riêng tuổi Ất Sửu thì hôn nhân, tình duyên không tốt, tuổi thanh xuân gặp nhiều trắc trở trên tình trường, sau khi lập gia đình thì thường bị đổ vỡ bất ngờ. Đại hạn, lưu niên đại hạn, tiểu hạn đi đến cung Phu thê thì thường điêu đứng về tiền bạc, thay đổi công việc, trắc trở đời sống vợ chồng.
Tuổi Bính: Tuổi Bính, nếu mệnh tạo hội Hỏa, Linh thì sau trung niên chuyển vận, phát tài đột ngột. Nhưng công việc thường không ổn định, hay thay đổi. Sức khỏe kém, nữ mệnh, sau 5X tuổi thường bị bệnh ung thư. Tuổi Bính Thìn, nếu thân cư Quan Lộc, thì dù có hội Hỏa, Linh cũng khó mà phát triển bền, thường hoạnh phát, hoạnh phá. Tuổi Bính Dần thì hôn nhân không thuận, đường tình duyên dễ gẫy đổ bất ngờ. Tuổi Bính Tí thì sức khõe tốt bẩm sinh có năng khiếu đặc biệt về tâm linh, tôn giáo, công việc không ổn định, hay thay đổi công việc, nam mệnh sau 5X thường có khuynh hướng nghiên cứu tôn giáo, tâm linh, xuất thế.
Tuổi Đinh: Nếu hội Hỏa Linh thì mới tốt, có cơ hội chuyển vận sau trung niên. Nếu không thì tiền đến tiền đi, mà nhiều lo toan, vất vả về tiền bạc. Anh em giàu có, nhưng không nhận được sự trợ lực từ anh em. Người tuổi Đinh Âm nữ gặp cách này, duyên với lục thân mỏng, duyên với Cha mẹ, bên nội ngoại không thuận, trước 3X lắm tai nạn, sau 3X có phần thuận lợi hơn, nhưng cuộc đời rất thăng trầm, sau 5X mới có thể nhàn hạ, đỡ lo lắng về tiền. Nếu âm nam thì Thân cư Thê mới mong khá giả, an lành.
Tuổi Mậu: Mệnh Song Lộc Triều viên, Thiên Ất quý nhân củng mệnh, nếu gia hội thêm Hỏa Linh, sau 3X sẽ có sự phát triển rực rỡ về tiền tài, danh vọng, sự nghiệp cực lớn. Nếu không có Hỏa, Linh cũng chủ về giàu có, nhưng mức độ phát mạnh và đột ngột trong trường hợp có Hỏa, Linh đồng cung. Tuổi Mậu Thìn, mệnh được Song Lộc Triều viên, Thiên Ất củng mệnh, nhưng do Lộc Tồn đồng độ Thiên Không (Thiên Không ở tứ sinh, Dần Thân Tỵ Hợi) nên số không nghèo. Nên vận dụng khả năng ngoại giao của mình để tạo ra tiền tài sự nghiệp, có thể giàu lớn. Đời sống hôn nhân không thuận, tình cảm vợ chồng vui ít buồn nhiều, dễ gẫy đổ bất ngờ, gia trạch không yên, sau 3X chuyển vận tốt. Nên làm ăn với người khác phái cũng dễ có thành tựu, nhưng nếu có Không, Kiếp hội cung Tài thì phải cẩn thận, dễ vì sắc mà tán tài, bại nghiệp. Tuổi Mậu Dần, sức khõe khá tốt, tiền bạc, tài vận tốt, có sự nghiệp lớn sau 3X tuổi, trường hợp nếu gia thêm Linh-Hỏa thì sự nghiệp phi thường, có thể là đại gia trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, nếu người thân cư Tài Bạch thì sự nghiệp cũng chả có gì lớn lao, nhưng cũng chủ về khá giả. Nam mệnh lấy được vợ đẹp, nhờ vợ, vợ tính cách tốt, gia đình khá giả. Nữ mệnh lấy được chồng tốt, nhưng do bất mãn chồng về tính cách, sau 4X sẽ ngoại tình, và việc vụng trộm này chồng không phát hiện được. Tuổi Mậu Ngọ, sớm xa cha mẹ ly hương lập nghiệp. Duyên với anh em, mẹ và bên ngoại bạc, sau 3X gia đạo không yên, sau 4X sẽ khá giả, nhưng sự nghiệp vẫn bình thường. Nếu tuổi Mậu Ngọ sinh giờ Dậu, thì sự nghiệp không có gì, cuộc đời luôn gặp tai bay vạ gió, lắm trắc trở, tối kị.
Mẫu người “Tham Vũ Đồng Hành” là những người có cung Mệnh an tại tứ mộ, tức là bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và có hai sao Tham Lang và Vũ Khúc tọa thủ đồng cung hoặc xung chiếu với nhau. Nếu cung Mệnh an tại Thìn và Tuất, thì Tham Lang và Vũ Khúc sẽ xung chiếu với nhau. Nếu cung Mệnh an tại Sửu và Mùi thì Tham Lang và Vũ Khúc sẽ tọa thủ đồng cung. Sau phần trình bày khái quát về cuộc đời của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành nói chung, chúng ta sẽ đi vào chi tiết để xem sự khác biệt của mẫu người tuy là Tham Vũ Đồng Hành, nhưng Tham Vũ đồng cung tọa thủ tại Mệnh có gì khác biệt với người Tham Lang thủ Mệnh và Vũ Khúc xung chiếu, cũng như Vũ Khúc thủ Mệnh và Tham Lang xung chiếu? Trước tiên, chúng ta nói qua về đặc tính của hai sao Tham Lang và Vũ Khúc là hai chính tinh trong cách Tham Vũ Đồng Hành Cư Tứ Mộ, rồi sau đó mới nói đến hai sao phụ khác nữa là Linh Tinh và Hỏa Tinh thì mới đủ bộ và đúng cách. Tham Lang là Bắc Đẩu tinh, hành của Tham Lang có người cho là hành Thủy, có người cho là hành Hỏa và cũng có người cho là hành Mộc. Theo thiển ý của người viết thì Tham Lang thuộc hành Mộc, bởi vậy, khi Tham Lang (đào hoa) tọa thủ tại cung Tí (cung Thủy), khoa tử vi gọi đây là cách Phiếm Thủy Đào Hoa, nghĩa là hoa đào trôi dạt trên dòng nước. Bản tính của Tham Lang là đặt nặng vấn đề vật chất trong cuộc sống.
Thích hội hè đình đám, những chỗ đông người với những cuộc vui. Tính rất năng động, háo danh, háo thắng và thích làm những chuyện lớn cho nên có nhiều tham vọng. Ưu điểm của Tham Lang là có năng khiếu về kinh doanh, có khả năng tổ chức, nhưng khuyết điểm là mau chán nản và dễ bỏ cuộc nửa chừng. Nếu Tham Lang ở các vị trí miếu hay vượng địa thì chủ về uy quyền, giàu sang và sống lâu. Vũ Khúc cũng là Bắc Đẩu tinh và thuộc hành Kim. Bản chất của Vũ Khúc rất nghịch với Tham Lang ở điểm Tham Lang thích vui chơi ở chỗ đông người thì Vũ Khúc lại thích cô đơn, làm việc gì cũng muốn độc hành. Người có Vũ Khúc thủ Mệnh tính gan dạ, táo bạo, có khả năng tổ chức, có đầu óc kinh doanh, chủ quyền uy, danh vọng và giàu sang. Chính những điểm tương đồng này giữa Vũ Khúc với Tham Lang mà bộ Tham Vũ là một bộ sao của những tay kinh doanh có hạng trên thương trường.
Có người cho rằng Tham Vũ là hai sao thuộc về võ cách, tượng trưng cho võ nghiệp thì tại sao lại hợp với lãnh vực kinh doanh? Để trả lời cho điều này, chúng ta hãy nhìn vào cuộc sống của người Hoa Kỳ cũng như cộng đồng người Việt Tỵ nạn, một số những cựu quân nhân, sau khi giã từ vũ khí, họ đã thành công một cách dễ dàng trên thương trường. Vậy phải chăng, những đức tính và khả năng cần có của một người điều binh trên chiến trường cũng cần thiết cho một người lăn lộn trên thương trường, đúng với câu mà người Trung Hoa vẫn nói: thương trường như chiến trường. Được xem là đắc cách Tham Vũ Đồng Hành thì hai sao Tham Lang và Vũ Khúc phải đóng tại bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gọi là tứ mộ, bốn cung này thuộc hành Thổ cho nên đó là bốn vị trí miếu địa, vượng địa của hai sao Tham Vũ. Một điều kiện quan trọng khác là tại bốn vị trí này, bộ Tham Vũ phải gặp một hoặc cả hai sao Linh Tinh, Hỏa Tinh. Hai sao Linh Hỏa có thể đồng cung, xung chiếu hay tam hợp chiếu với hai sao Tham Vũ thì mới đầy đủ uy lực mà khoatử vi thường gọi là cách Tham Vũ đồng hành cư tứ mộ, ngộ Linh, Hỏa hào phú gia tư, hầu bá chi quý. Có nghĩa là người Mệnh an tại bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có Tham Lang và Vũ Khúc đồng cung hay xung chiếu, lại thêm có một hoặc hai sao Hỏa Tinh, Linh Tinh chiếu vào là số giàu sang, phú quý như bậc hầu bá dưới thời phong kiến ngày xưa.
Điều mà chúng ta lưu ý ở đây là sự thành công, phú quý của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành không phải từ quan trường, mà chính là từ thương trường. Như trên chúng ta đã nói, mẫu người Tham Vũ Đồng Hành rất gan dạ, tự tin, nhiều tham vọng, có óc tổ chức và có năng khiếu về thương mãi, cho nên họ là những tay kinh doanh có tầm vóc chứ không phải chỉ làm ăn buôn bán lẻ tẻ. Đó phải chăng là do sự ảnh hưởng kỳ diệu của vòng Ngũ Hành tương sinh trong cách này: hành Hỏa của Linh Tinh, Hỏa Tinh một mặt phù trợ cho hành Thổ của bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi để tương sinh cho hành Kim của Vũ Khúc, đồng thời cũng đốt cho Kim này thành Thủy để dưỡng Mộc của Tham Lang, rồi Mộc của Tham Lang lại là củi cho ngọn lửa Linh, Hỏa cháy bùng lên…

Một đặc điểm khác đáng lưu ý của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành là vì ảnh hưởng của Vũ Khúc, cho nên mẫu người này thường lao đao, lận đận trong tiền vận, và sớm lắm thì cũng phải qua trung vận, đa số phải đến hậu vận mới có thể gọi là thành công như ý muốn và lúc đó cơ nghiệp mới có thể bền vững được. Hỏa Tinh và Linh Tinh là hai sao Hỏa, cho nên lúc phát thì sẽ giúp cho bộ Tham Vũ phát rất nhanh, nhưng nếu phát không đúng vào thời vận thì cũng chỉ như ngọn lửa rơm, bùng lên rồi cũng tắt đi một cách nhanh chóng. Nếu biết được lý lẽ này, mẫu người Tham Vũ Đồng Hành chẳng nên bôn ba sớm trong cuộc đời mà chuốc nhiều phiền não, đắng cay.
Điều này rất nhiều người đã biết, nhưng họ không cam lòng, để cuối cùng cũng nói được một câu an ủi với chính mình như Nguyễn Du đã nói: càng phong trần danh ấy càng cao! Đặc điểm này thấy rõ nhất ở những người Tham Vũ Đồng Hành mà Mệnh an tại hai cung Sửu và Mùi, hai sao Tham Vũ sẽ đồng cung, khắc chế nhau mạnh mẽ trong tiền vận (khoảng 33 hoặc 36 tuổi) khiến cho đương số bao lần thấm mệt và sớm ngộ được cái ý nghĩa của câu: có tài mà cậy chi tài… Phải qua trung vận và bắt đầu vào hậu vận thì sự nghiệp của người Tham Vũ Đồng Hành có Mệnh an tại Sửu hay Mùi mới được ổn định và bền vững cho đến cuối cuộc đời.
Nói đến sự thành công của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành nhanh hay chậm, bền vững hay ngắn ngủi thì chúng ta cũng nên lưu ý trường hợp nếu Mệnh an ở tứ mộ, có Tham Lang tọa thủ đồng cung với Hỏa Tinh, thì đây còn gọi là cách Tham Hỏa Tương Phùng, nếu gặp Linh Tinh thì gọi là cách Tham Linh Tịnh Thủ, cũng là những dạng của Tham Vũ Đồng Hành, nhưng với cách này, khi đến thời, đương số sẽ phát rất nhanh vì ảnh hưởng mạnh mẽ của Ngũ Hành tương sinh giữa Tham Lang thuộc Mộc và Hỏa Tinh thuộc Hỏa đồng cung với nhau. Tuy nhiên, công danh sự nghiêp dù có phát rất nhanh chóng, nhưng cũng chẳng giữ được lâu bền, vì đây cũng chỉ là cách bạo phát, bạo tàn mà thôi. Tương tự như vậy, chúng ta xét đến vị trí của hai chính tinh Tham Vũ tại tứ mộ.
Đối với những người Tham Vũ Đồng Hành mà Mệnh an tại hai cung Thìn và Tuất thì sự khắc chế của hai sao Tham Vũ tương đối nhẹ hơn vì nằm trong vị trí xung chiếu nhau, vì vậy, sự nghiệp của mẫu người này sẽ thành đạt sớm hơn, nhưng mức độ của sự thành đạt lại không có kích thước bằng những người Mệnh an tại Sửu Mùi. Và một điểm khác biệt nữa là cá tính của mỗi mẫu người Tham Vũ Đồng Hành sẽ có sự khác biệt tùy theo cung an Mệnh.
Khi Mệnh an ở Thìn Tuất thì nếu chúng ta giao tiếp với những người này, chúng ta sẽ nhận ra họ như có hai con người khác nhau: một con người vì ảnh hưởng của Vũ Khúc nên thường sống cô độc, suy nghĩ và quyết định một mình, nhưng khi ra ngoài, sao Tham Lang lại làm cho họ thành một con người khác, họ biết nói, biết làm cho vui lòng người khác, mặc dù trong thâm tâm họ không thích như vậy, và phải chăng đây cũng là một đặc tính giúp họ thành công trong lãnh vực kinh doanh? Tóm lại, mẫu người Tham Vũ Đồng Hành là một mẫu người lý thú khi chúng ta quen biết hoặc hợp tác trong vấn đề làm ăn mua bán với nhau. Họ là những người có cá tính rất mạnh, gan lì, táo bạo và nhiều tham vọng. Địa bàn giúp họ thành công là thương trường. Và thời điểm mà họ xây dựng được sự nghiệp như ý là hậu vận của cuộc đời.
- Advertisement -